Tuesday, May 28, 2013

phim Xác Ướp Ai Cập

phim Xác Ướp Ai Cập
phim Xác Ướp Ai Cập 





phim Xác Ướp Ai Cập 


Từ thập kỉ 80 đến nay, cùng với việc ‘mở cửa’, với phong trào “Đổi mới”, các lí thuyết văn học phương Tây được giới thiệu ở Việt Nam ngày càng nhiều, trong đó có những lí thuyết khác, thậm chí đối lập với lí thuyết Macxit về văn nghệ. Nói chung, cũng như các mặt khác của đời sống xã hội, lí luận văn học của ta hội nhập dần vào đời sống học thuật quốc tế.

Báo cáo này của tôi giới hạn sự xem xét ở văn học Việt Nam, một phạm vi rất nhỏ so với chủ đề của cuộc Hội thảo, hơn nữa cũng chỉ về cách đọc văn học, tức là việc sử dụng những lí thuyết văn học ra đời ở phương Tây trong hoạt động nghiên cứu, phê bình (từ đây sẽ gọi chung là phê bình) văn học dân tộc đã và nên như thế nào. Tôi cũng lưu ý nhiều hơn đến các công trình phê bình Truyện Kiều của Nguyễn Du, một tác phẩm tiền hiện đại được coi là linh hồn của văn hóa Việt Nam. Lí do là vì Truyện Kiều cho đến hiện nay vẫn là “bãi thử” của những vũ khí phê bình mới, là “bộ máy” để kiểm tra sức khỏe những vị – khách – lí – thuyết đến từ phương Tây. Các lí thuyết lớn như phê bình phân tâm học, phê bình Macxit, cấu trúc luận, thi pháp học đều đã được vận dụng để phân tích Nguyễn Du và Truyện Kiều. Trong giới phê bình văn học Việt Nam có một định niệm bất thành văn như sau: Anh sẽ chưa được thừa nhận là nhà phê bình hạng nhất nếu chưa chứng tỏ khả năng trong phê bình Truyện Kiều. Ba trường hợp tôi cho là tiêu biêu để phân tích và rút ra kết luận gồm các công trình Nguyễn Du và Truyện Kiều (1941) của Nguyễn Bách Khoa, Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (1970) của Lê Đình Kỵ và Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều (1985) của Phan Ngọc. Đây chưa hẳn chúng đã là những công trình xuất sắc nhất về nghiên cứu Truyện Kiều, nhưng với tôi, chúng tiêu biểu cho ba giai đoạn khác nhau của qúa trình tiếp nhận và vận dụng các lí thuyết văn học phương Tây để đọc văn học dân tộc, cụ thể là Truyện Kiều của Nguyễn Du[1]. Bây giờ tôi xin đi vào nội dung chính.
phim Xác Ướp Ai Cập 
Phê bình văn học hiện đại Việt Nam mới có cách nay khoảng một thế kỉ, các bài khảo cứu về thể loại văn học của Phạm Quỳnh như Khảo về tiểu thuyết, Khảo về phê bình… trên tạp chí Nam Phong (1917 -1934) ghi nhận một thời điểm chắc chắn sự có mặt của phê bình hiện đại. Có thể nói, phê bình văn học Việt Nam ra đời cùng với việc đọc văn học theo lối phương Tây, là sự tiếp cận văn chương theo các lí thuyết văn học của châu Âu thế kỉ XIX. Những cái tên như G. Lanson, H. Taine, S. Beuve, Plekhanov… không xa lạ gì với các nhà phê bình văn học ViệtNam ở đầu thế kỉ XX. Lối viết lịch sử văn học kiểu G. Lanson được các trí thức tây học biết rõ ngay từ trong nhà trường, phê bình tiểu sử của S. Beuve rất được ưa chuộng và được thực hành qua các công trình của Lê Thước, Trần Thanh Mại… Tuy nhiên người nổi bật nhất trong số những nhà phê bình vận dụng các lí thuyết Phương Tây để phê bình văn học ở giai đoạn trước 1945 là Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu, 1913-1999). Mỗi cuốn sách chuyên khảo của ông là sự vận dụng một (hay một vài) lí thuyết phê bình phương Tây để phân tích văn học dân tộc: Nguyễn Du và Truyện Kiều dùng phân tâm học của S. Freud và phê bình văn hóa – lịch sử của H. Taine, Kinh thi Việt Nam được ông phân tích theo quan điểm tâm lí cộng đồng, Tâm lí tư tưởng Nguyễn Công Trứ theo quan điểm Macxit và H. Taine…
phim Xác Ướp Ai Cập 
Nguyễn Bách Khoa đọc rất nhiều các nhà khoa học phương Tây và vận dụng nhiều lý thuyết vào việc phê bình, không chỉ các lí thuyết văn học mà cả những lí thuyết khoa học khác: tâm lí học, thần kinh học, xã hội học… Đôi lúc số lượng trích dẫn lời của các nhà khoa học “kinh điển” có vẻ như quá mức. Ông định danh cho lối phê bình của mình là “phê bình khoa học” và giải thích rõ: Đó là cách phê bình trước khi tiếp cận đối tượng đã “có sẵn một hệ thống ý tưởng” (tức một lí thuyết). Khi nghiên cứu Nguyễn Du cũng như khi nghiên cứu bất kì một sự trạng văn học nào” cũng theo cách như vậy. Lối phê bình theo lí thuyết này đối lập với lối phê bình truyền thống: hoặc thiên về cảm thụ chủ quan, hoặc thiên về “phê bình phù phiếm”, như cách nói của ông, tức mô tả tỉ mỉ cái khéo trong việc đặt câu dùng chữ, tả người… Trong số các lý thuyết thì ba lý thuyết sau đây để lại dấu ấn đậm nét hơn cả trong các công trình tiêu biểu của Nguyễn Bách Khoa: Thuyết chủng tộc – địa lý của H. Taine, phân tâm học của S. Freud và học thuyết của K. Marx về phân chia giai cấp và văn học phản ánh xã hội. Học thuyết của K. Marx được vận dụng triệt để trong Tâm lí và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (1943), hai lý thuyết kia chủ yếu được vận dụng trong công trình Nguyễn Du và Truyện Kiều (1941). Lí giải Truyện Kiều theo phân tâm học Freud, Nguyễn Bách Khoa cho rằng sinh lực, lòng ham sống và khí phách cá nhân của Nguyễn Du do di truyền huyết thống và địa phương tính tạo nên, bị ý thức hệ nho giáo của đẳng cấp nho sĩ mà ông là một thành viên dồn ép vào tiềm thức. Vì vậy, giữa ý thức hệ và tiềm thức luôn xung đột nhau và làm nên “tấn bi kịch của tâm hồn” cũng tức là tâm sự sâu thẳm của Nguyễn Du. Phê bình Truyện Kiều là chỉ ra những biểu hiện của tâm sự sâu thẳm này trong tác phẩm. Nếu sau này chúng ta có ngành phê bình phân tâm học văn học (psychoanalytical liteary criticism) thì các tác phẩm của Nguyễn Bách Khoa phải được xem là những viên gạch đầu tiên.
phim Xác Ướp Ai Cập 
Nguyễn Bách Khoa còn lí giải Nguyễn Du và văn chương Truyện Kiều theo quan điểm của nhà phê bình văn học Pháp H. Taine. Trong cuốn La Fontaine và thơ ngụ ngôn của ông (La Fontaine et ses fables), H.Taine cho rằng có thể qua ba yếu tốnòi giống, hoàn cảnh địa lí và thời điểm lịch sử nhà văn sống để lí giải mọi sự bí ẩn của văn chương. Học tập Taine, Nguyễn Bách khoa lí giải rằng chất thơ hào hùng và trữ tình say đắm trong Truyện Kiều có được là do cá tính Nguyễn Du được cấu tạo nên bởi hai yếu tố thuộc huyết thống là chí cương cường của người Nghệ Tĩnh (từ người cha) và tinh thần mẫu hệ của văn hóa Bắc Ninh (từ người mẹ). Ngoài các lí thuyết văn học ra đời ở thế kỉ XIX nói trên, dường như ông cũng đã tiếp xúc được với các tài liệu của các lí thuyết văn học đương đại[2].

Phê bình khoa học của Nguyễn Bách Khoa bị phản ứng dữ dội từ các nhà phê bình theo lối truyền thống, nhất là Hoài Thanh[3]. Bị phê phán mạnh nhất là quan điểm của Nguyễn Bách Khoa cho rằng “Nguyễn Du là một con bệnh thần kinh” và “Truyện Kiều là kết tinh tinh thần của một chặng đường suy đồi nhất trên tràng kì tiến hóa của cá tính Việt Nam”[4]. Nguyễn Bách Khoa dùng chữ “bệnh thần kinh” ở đây không phải theo nghĩa thông thường như trong đời sống hàng ngày người ta vẫn dùng, mà theo nghĩa của khái niệm khoa học – khoa tâm bệnh học được dùng trong cuốn La personnalité humaine của Marcel Boll. Ông giải thích rõ, đó là thứ bệnh “thông thường”, “cứ 5 người thì có một người mắc” do “bộ giao cảm thần kinh không khoẻ khoắn”, do “căn tạng cảm xúc quá độ” (constitutions morbides) nên tính khí luôn trầm muộn, lo sợ hoảng hốt và mắc chứng ảo giác (hallucination). Cá tính ấy thể hiện trong văn chương thành “sự rung động thành thực và mãnh liệt, sự tưởng tượng dồi dào”, sự cảm xúc ủy mị và bi thương, sự cảm thông với đồng loại đau khổ và thần linh (Nguyễn Du và Truyện Kiều). Ta không biết chắc chắn la Nguyễn Du có mắc bệnh hay ưu uất (hysterie) như Nguyễn Bách Khoa nói không, nhưng cách làm của ông rõ ràng là không khoa học: các nhà thần kinh bệnh học đưa ra kết luận về một “con bệnh” nào đó, bao giờ cũng dựa trên kết quả của một chu trình thực nghiệm lâm sàng, còn ở đây Nguyễn Bách Khoa lại căn cứ vào văn thơ để chuẩn đoán “bệnh” cho Nguyễn Du. Trong phê bình văn học, đóng góp của Nguyễn Bách Khoa rất lớn, nhưng cũng dễ chỉ ra các sai lầm của ông, những sai lầm này có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là ở việc ông sử dụng lí thuyết phương Tây một cách cứng nhắc, như một bộ công cụ, bộ “đồ nghề” để làm việc với các hiện tượng văn học Việt Nam, không thấy những giới hạn của mỗi lí thuyết phê bình. Ngoài ra, có lẽ cũng còn do tư tưởng duy khoa học quá mức của ông và cảm quan thuộc địa trong phê bình văn học đầu thế kỉ.
phim Xác Ướp Ai Cập 
Ở thời kì thứ hai của lịch sử phê bình hiện đại Việt Nam (1945-1980) tôi muốn lưu ý đến nhà phê bình Lê Đình Kỵ với công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (1970). Thời kì này ở Miền Bắc, rồi sau 1975 là cả nước, tinh thần chung là chống các “lí thuyết tư sản”, phê bình hoàn toàn theo lí luận mĩ học Macxit được tiếp thu từ Liên xô, đặc biệt là phê bình các phương pháp nghệ thuật: Phương pháp nghệ thuật cổ điển chủ nghĩa, phương pháp nghệ thuật lãng mạn chủ nghĩa, phương pháp hiện thực chủ nghĩa, phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa… Theo quan điểm ấy, mỗi tác phẩm được sáng tác theo một phương pháp nghệ thuật nhất định. Truyện Kiều, theo Lê Đình Kỵ, cơ bản là tác phẩm hiện thực chủ nghĩa (réalisme).

Trong thập kỉ sáu mươi, Lê Đình Kỵ là một hiện tượng nổi bật trong đời sống lí luận phê bình văn học, người truyền bá tích cực nhất lí thuyết về các phương pháp nghệ thuật. Ông tham gia dịch nhiều sách lí thuyết văn học bằng tiếng Nga, là tác giả của Tập IV Các phương pháp nghệ thuật thuộc bộ giáo trình Những nguyên lí lí luận văn học. Năm 1970 Lê Đình Kỵ cho ra mắt chuyên khảo nổi tiếngTruyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, đỉnh cao nhất trong sự nghiệp phê bình văn học của ông. Là một nhà lí luận văn học, một giáo sư chuyên giảng các khóa trình về phương pháp nghệ thuật, Lê Đình Kỵ còn (mà có khi trước hết) là một nhà phê bình rất nhạy cảm đối với cái đẹp văn chương và có lối văn uyển chuyển lôi cuốn. Về phương diện này, nhiều chỗ cây bút phê bình Lê Đình Kỵ có thể sánh ngang với Hoài Thanh. Trước một câu thơ tưởng như rất “bình thường” ông vẫn gọi ra được một ý nghĩa bất ngờ, thú vị. Trong câu thơ của Nguyễn Du nói về việc Thúy Kiều thoát khỏi lầu xanh Tú Bà để về ở với Thúc Sinh:Gót tiên thoắt đã thoát vòng trần ai, nhà phê bình nghe thấy “tiếng reo mừng” của “con người được giải phóng”: Câu thơ tả đêm động phòng hoa chúc của Kim-Kiều trong “màn tái hồi”: Động phòng dìu dặt chén mồi/ Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa, ông thấy “một không khí chua chát bao trùm”, “một cái gì đổ vỡ không phương cứu chữa”[5]. Những cảm nhận cực tinh tế như vậy về tâm lí nhân vật, về các thủ pháp nghệ thuật của Nguyễn Du ta có thể gặp khắp nơi trong công trình này. Chúng đã cứu được cuốn sách khỏi sự tầm thường và lãng quên như bao công trình phê bình phương pháp sáng tác thời ấy phải đón nhận. Bởi vì khi lấy cái sơ đồ lí thuyết về văn học hiện thực chủ nghĩa thế kỉ XIX ở phương Tây áp dụng vào một tác phẩm thời trung đại như cách làm của ông ở đây là không thích hợp. Trong công trình vẫn thấy những nguyên tắc đánh giá của chủ nghĩa hiện thực như: miêu tả bức tranh xã hội của thời đại, chi tiết chân thực, hoàn cảnh điển hình và nhân vật điển hình…, cái khung lí thuyết chung thì vẫn thế, nhưng luôn có tình trạng “vượt khung” (Trần Đình Sử), vượt khung vì ông say mê cái đẹp nghệ thuật, coi trọng thực tế tác phẩm, ngưỡng mộ thiên tài Nguyễn Du. Lê Đình Kỵ áp dụng lí thuyết nhưng không hoàn toàn lấy tác phẩm làm sự minh họa cho lí thuyết, “không vì lí thuyết mà quên mất thực tiễn” (tác phẩm). Nếu có sự không tương ứng giữa lí thuyết và tác phẩm, không phải bao giờ ông cũng dễ dàng lựa chọn lí thuyết. Chẳng hạn cách ông đối xử với đoạn “tái hồi” trong Truện Kiều. Theo ông dù trái với hiện thực nhưng đọc đến đây người đọc vẫn thấy tin Nguyễn Du, “người ta vẫn thừa nhận cái tiền đề: cuộc đoàn viên là có khả năng tính”. Một nhà lí luận khi phê phán ông đã nhận định: “Tiếc rằng khi ứng dụng vào thực tế văn học Việt Nam, tác giả đã không tuân theo những điều (quan điểm lí luận – TBĐ) mà mình đã công nhận và truyền bá”[6]. Vấn đề Truyện Kiều có phải được sáng tác theo phương pháp nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa không đã khiến ông đắn đo rất nhiều. Ông viết hẳn một chương sách rất hay về cái gọi là “Những ràng buộc của mĩ học đương thời” nhằm chỉ ra những “khiếm khuyết” của phương pháp hiện thực chủ nghĩa trong Truyện Kiều. Ở đây những phát hiện về cách nhìn và các nguyên tắc nghệ thuật của văn học cổ điển rất có giá trị. Theo nhà phê bình Huỳnh Như Phương thì về cuối đời ông muốn đổi tên cuốn sách làTruyện Kiều – đỉnh cao nghệ thuật. Điều ấy cho thấy ông muốn từ bỏ cái gọi là “chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều“.
Như vậy, Lê Đình Kỵ đã không chọn con đường minh họa giản đơn các nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực được khái quát từ giới làm lí luận nước ngoài và dù ông chưa làm được cái việc “nhào nặn lại” chúng thì cũng không nhắm mắt tuân theo chúng. Trường hợp ngược lại ta có thể thấy trong các công trình về chủ nghĩa hiện thực của Đỗ Đức Dục. Phê bình các tác phẩm của văn học dân tộc như tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí (tk. XVIII), thơ Tú Xương (tk.XIX) và nhiều tác phẩm khác, Đỗ Đức Dục không bao giờ rời xa các nguyên tắc của lí thuyết hiện thực chủ nghĩa. Kết quả, những công trình ấy giờ ra sao thì chúng ta đã biết. Cần nói thêm là Đỗ Đức Dục biết rất rõ văn học hiện thực chủ nghĩa phương Tây và các lí thuyết về nó. Trước năm 1980 việc vận dụng các lí thuyết phương Tây (chưa kể các thập kỉ 60-70 ở đô thị miền Nam) nói chung là như vậy.
phim Xác Ướp Ai Cập 
Từ thập kỉ 80 đến nay, cùng với việc ‘mở cửa’, với phong trào “Đổi mới”, các lí thuyết văn học phương Tây được giới thiệu ở Việt Nam ngày càng nhiều, trong đó có những lí thuyết khác, thậm chí đối lập với lí thuyết Macxit về văn nghệ. Nói chung, cũng như các mặt khác của đời sống xã hội, lí luận văn học của ta hội nhập dần vào đời sống học thuật quốc tế. Có thể nói sơ lược về một vài xu hướng như sau:

- Xu hướng phê bình ngôn ngữ học: bao gồm nhiều trường phái như cấu trúc luận, kí hiệu học, tự sự học… Đó là những trường phái lí thuyết văn học tiêu biểu ở phương Tây thế kỉ XX. Hầu hết chúng đều có xuất phát điểm là vận dụng các quan điểm và phương pháp nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học như F.de Saussure, L. Hjelmslev… Từ giữa những năm 80 đã có một số nhà phê bình của ta vận dụng các lí thuyết đó như của Phan Ngọc: Phong cách của Nguyễn Du trong Truyện Kiều (xuất bản năm 1985), Hoàng Trinh: Kí hiệu, nghiên cứu và phê bình văn học… Những năm gần đây xu hướng này ngày càng phát triển, như các công trình của Đỗ Đức Hiểu được tập hợp trong cuốn Thi pháp hiện đại. Lối nghiên cứu văn học theo tự sự học cũng đang thành một phong trào trong khu vực học viện và các trường đại học.

- Xu hướng phê bình sự đọc: Bao gồm hiện tượng học, thông diễn luận… Các công trình giới thiệu những trường phái này cũng đang rất sôi nổi. Từ thập kỉ 80 đã có nhiều bài báo giới thiệu lí thuyết tiếp nhận của Nguyễn Lai, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử. Hai tác giả đầu đã có thời gian học tập và nghiên cứu tại Đức, nơi lí thuyết tiếp nhận rất phát triển. Những năm gần đây, có một số công trình khoa học đáng chú ý của Trương Đăng Dung. Nói chung, ý nghĩa của sự đọc, vai trò của người đọc ngày càng được giới phê bình chú ý.
phim Xác Ướp Ai Cập 
- Xu hướng tâm lí học: Như trên đã nói, trước 1945 ở ta đã có Nguyễn Bách Khoa áp dụng tâm lí học vào nghiên cứu Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Du. Hai thập niên vừa qua việc giới thiệu các lí thuyết tâm lí học của Freud, Jung, Vygotski… thu hút được sự chú ý của giới phê bình. Phê bình phân tâm học của G. Bachelard cũng được giới thiệu. Người có những thành công bước đầu trong việc vận dụng tâm lí học vào phê bình văn học Việt Nam hiện nay là Đỗ Lai Thúy. Đỗ Lai Thúy viết về hoài niệm phồn thực của thơ Hồ Xuân Hương, về những ẩn ức trong thơ Hoàng Cầm… đưa lại một số nhận thức mới mẻ.

Lí thuyết hậu hiện đại cũng bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Trong các nghệ thuật khác như hội họa, sân khấu, vũ đạo… luôn vang lên thuật ngữ “hậu hiện đại”. Còn trong văn học một số nhà phê bình “thấy” các yếu tố hậu hiện đại từ các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp (?), Phạm Thị Hoài cho đến các tác giả gần đây như Nguyễn Bình Phương chẳng hạn.
phim Xác Ướp Ai Cập 
Trong số các lí thuyết trên, cho đến nay, thuyết cấu trúc – kí hiệu học vận dụng vào phê bình văn học Việt Nam thành công hơn cả. Có thể do văn học phương Đông có nhiều tính quy phạm và tượng trưng nên là đối tượng thích hợp cho những nghiên cứu của lí thuyết này. Các kết qủa có thể thấy rõ qua các công trình của Phan Ngọc, Đỗ Đức Hiểu và phần nào của Đặng Tiến, đặc biệt, tôi muốn lưu ý đến người đầu tiên với công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều[7]. Phan Ngọc là một nhà bách khoa (hình như là nhà bách khoa cuối cùng của chúng ta) kiểu như Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, Nguyễn Hiến Lê… Ông vừa là nhà ngôn ngữ học, nhà phê bình văn học, nhà sử học, nhà văn hóa học, nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng, dịch giả nổi tiếng thông hiểu nhiều ngôn ngữ và văn học cả phương Đông lẫn phương Tây. Cuốn chuyên khảo về Truyện Kiều được ông viết trên nền tảng một kiến thức tổng hợp, liên ngành, nhưng cốt lõi là lí thuyết cấu trúc. Là một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng, các lí thuyết ngôn ngữ học của F. de Saussure, R. Jakobson, N. Troubetskoy… không xa lạ gì với ông, hơn nữa ông còn tiếp nhận rất chủ động, có đánh giá. Ông coi các lí thuyết được tiếp thu từ bên ngoài chỉ là những kiến thức như các tri thức khác cần được đánh giá, nhào nặn lại để hình thành nên một phương pháp riêng thích hợp cho việc nghiên cứu một đối tượng cụ thể. Cuốn chuyên khảo về Truyện Kiều của ông không giống với bất kì cuốn chuyên khảo nào trên thế giới. Tuy vậy về cốt lõi nó chịu nhiều ảnh hưởng của thuyết cấu trúc. Mục tiêu của nhà phê bình ở đây là tìm hiểu đặc trưng nghệ thuật riêng biệt mà ông gọi là “phong cách Nguyễn Du”. Phan Ngọc viết “Đặc trưng ấy là tính thống nhất hữu cơ của các bộ phận trong một chỉnh thể, hay nói khác đi, tính cấu trúc của nó. Tính cấu trúc của phong cách biểu lộ ở chỗ chỉ nhìn một bộ phận ta đoán biết được toàn thể… chỉ cái gì mang tính cấu trúc chặt chẽ đến như vậy thì cái đó mới có phong cách”[8]. Những lời như thế hiển nhiên là rất quen thuộc với nhà cấu trúc luận ở bất kì đâu trên thế giới. Phan Ngọc cũng phân tích Truyện Kiều theo hai trục đồng đại (synchronie) và lịch đại (diachronie), cũng coi ngôn ngữ như một hệ tín hiệu gồm hai mặt là hình ảnh âm thanh và khái niệm (nghĩa). Từ đó ông không tách tác phẩm ra thành hai phần là nội dung và hình thức để xem xét như cách làm của các nhà phê bình Việt Nam cho tới lúc đó, mà “khi nói đến nội dung thì nói luôn cả cách hình thức hóa nội dung, và ngược lại khi nói đến hình thức thì nói luôn hình thức này có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung đã chọn”. Như vậy, nội dung là nội dung được xây dựng theo một hình thức nào đấy, hình thức là hình thức riêng của một nội dung nhất định. Với lí thuyết mà Phan Ngọc gọi là phong cách học này, ông đã có nhiều phát kiến về nghệ thuật Truyện Kiều như: cách tự sự của Nguyễn Du, Truyện Kiều - một tiểu thuyết tâm lí, bố cục theo lối của nghệ thuật kịch… Các nhà phê bình theo cấu trúc luận thường bị phê phán là chỉ bó hẹp vào việc phân tích văn bản, tách văn bản khỏi môi trường mà nó tồn tại, coi văn bản có ý nghĩa tự nó. Phan Ngọc trong công trình này không mắc nhược điểm ấy. Khi phân tích Truyện Kiều, ông luôn đặt văn bản trong cấu trúc văn hóa của thời đại Nguyễn Du, không cắt đứt văn bản khỏi tiến trình văn học Việt Nam và Đông Á cho đến lúc ấy. Phương pháp cấu trúc và phương pháp lịch sử bổ trợ nhau. Công trình không phải là không có thiếu sót, nhưng tôi vẫn xem đây là một mẫu mực của cách vận dụng các lí thuyết phương Tây vào phê bình văn học ViệtNam.
phim Xác Ướp Ai Cập 
Để kết thúc bài viết này tôi xin đưa ra hai khuyến cáo sau đây:

1/ Cần thấy giới hạn của các lí thuyết phê bình: cho đến nay, mỗi lí thuyết đều nhằm nhấn mạnh vào một yếu tố nào đấy của văn học: hoặc nhà văn (phê bình tiểu sử), hoặc văn bản (cấu trúc luận, phê bình Mới…), hoặc người đọc (lí thuyết tiếp nhận), hoặc vào môi trường ngoài văn bản (lí luận của Taine, lí luận Macxit…). Mỗi lí thuyết có một thế mạnh nhất định, song cũng có giới hạn, còn “một phương pháp tổng hợp còn chưa được tìm ra”( Yu. Tynianov). Chúng ta nên nắm được nhiều lí thuyết để tuỳ từng trường hợp cụ thể, theo những yêu cầu nghiên cứu nhất định mà ta sử dụng phương pháp phê bình này hay khác.

2/ Không nên tiếp thu nguyên xi một mô hình lí thuyết nào đấy, rồi sử dụng các nguyên tắc của nó như một bộ công cụ có sẵn để phê bình văn học dân tộc. Cần coi các lí thuyết như các kiến thức, như các mách bảo cho nhận thức, kết hợp với các kiến thức khác và kinh nghiệm để tự thiết lập nên một phương pháp phù hợp nhất với đối tượng và những mục tiêu đặt ra./.

Hà Nội ngày 10 tháng 3 năm 2011

* Tham luận tại Hội thảo Quốc tế “Tiếp cận văn học châu Á từ lý thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội” ([Pre]Modern Asian Literatures Read through Modern Western Theories: Applications, [In]Compatibilites, Challenges, and Opportunities) do Viện Văn học tổ chức trong hay ngày 14 và 15 tháng 3 năm 2001 tại Hà Nội – với sự đồng tài trợ của Viện Harvard Yenching (Hoa Kỳ) và Quỹ Giao lưu Văn hóa Nhật Bản (Japan Foundation)

[1] Xem Trịnh Bá Đĩnh: Di sản của Nguyễn Du và thời gian. Trong cuốn: Nguyễn Du- về tác gia, tác phẩm. Nxb. Giáo dục, H., 1998

[2] Hãy đọc những dòng sau đây: “Nhưng tiếng nói vừa là một âm thanh, mà lại vừa là một ký hiệu” (signe), một tượng trưng (symbol), để các người trong xã hội dùng đến khi muốn hiểu nhau. Nó chứa đựng một ý nghĩa mà xã hội đã định cho nó… Tập thơ mà một thi sĩ sáng tác ra vừa là một tương quan âm thanh, vừa là một tương quan biểu tượng và ý niệm”.(Trương Tửu: Tuyển tập nghiên cứu, phê bình. Nxb. Lao động, H., 2007, tr.393). Đó chả lẽ lại không phải là quan điểm của kí hiệu học?

[3] Hoài Thanh châm biếm rằng: với ông Nguyễn Bách Khoa cái gì cũng có thể cắt nghĩa được như 2 với 2 là 4. Theo Hoài Thanh “Muốn bước vào thế giới như thế giới Đoạn Trường tân thanh, thái độ đúng và khoa học hơn cả là bỏ hết các kiến thức khoa học ở ngoài cửa để đi vào với tấm lòng chân thành và thanh khiết” (Một vài ý kiến về quyển “Nguyễn Du và Truyện Kiều” của ông Ngguyễn Bách Khoa. Trong Vì chúa nguyệt san, số 28, tháng 7, 8, 1943). Trong việc đọc văn học, Hoài Thanh chỉ tin vào cảm thụ chủ quan, ông chủ trương phê bình phi lí thuyết: “Cho hay những lí thuyết chẳng có nghĩa lí gì, chẳng ăn thua gì” (Văn chương và hành động. Nxb. Hội nhà văn, H., 1999, tr. 8).
phim Xác Ướp Ai Cập 
[4] Trương Tửu, sdd. tr. 416

[5] Lê Đình Kỵ, Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, Nxb. Khoa học xã hội, H., 1970, tr. 190

[6] Nguyễn Xuân Nam, Về cuốn Các phương pháp nghệ thuật của Lê Đình Kỵ. Tạp chí văn học, 1962, số 11, tr. 28

Yêu Thầm 99 Ngày

Yêu Thầm 99 Ngày
Yêu Thầm 99 Ngày 



Yêu Thầm 99 Ngày 
Yêu Thầm 99 Ngày - Love In Time 2012 (HD) Đạo diễn: Leefire Diễn viên: Huỳnh Tông Trạch, Đặng Lệ Hân Thể loại: Hài Hước, Tình Cảm Sản xuất: Universe Entertainment Quốc gia: Trung Quốc Thời lượng: 103 phút Năm phát hành: 2012 Nguồn: Sưu tầm Giới thiệu: Bộ phim "Yêu Thầm 99 Ngày - Love In Time 2012 (HD)": kể về tình yêu đơn giản nhưng lãng mạn giữa một anh chàng bán kem nhí nhố và một cô nàng cụ non luôn thích làm trạch nữ. Đây là bộ phim điện ảnh đầu tiên mà Huỳnh Tông Trạch đóng vai chính. Mời các bạn thường xuyên truy cập website chúng tôi để cập nhật những bộ phim hài hước tình cảm trung quốc hay nhất năm 2013 phim hay. phim
Yêu Thầm 99 Ngày 

Trước những biến đổi to lớn và sâu sắc trong đời sống chính trị và xã hội của thế giới vào thập kỉ cuối cùng của thế kỉ XX, đặc biệt ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, không ít người đặt vấn đề về sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa Marx, và cùng với nó, giới lí luận văn học quan tâm tới số phận lịch sử của lí luận văn học mácxit. Theo lôgíc hình thức, người ta dễ dàng nghĩ rằng, biến đổi kinh tế- xã hội tất yếu dẫn tới những biến đổi của văn hóa trong đó có văn học. Liệu lí luận văn học mácxit có bị biến đổi trong cơn lốc chính trị này không? Hàng loạt công trình nghiên cứu mà chúng tôi chọn lọc liệt kê ở cuối bài đều được xuất bản những năm cuối thế kỉ XX trên nhiều nước phương Tây đều có chung mục đích phân tích và xác định số phận lịch sử của lí luận văn học mácxit, nhưng nổi bật hơn cả, các tác phẩm này đã đề cập tới những biến thái của nó.
Yêu Thầm 99 Ngày 
Nhà nghiên cứu người Đức, Hanes Fricke, trong cuốn sách Văn hóa thời đương đạigồm 700 thuật ngữ khoa học về văn hóa do Giáo sư Ralf Schnell chủ biên năm 2000, lí luận mácxit được ghi nhận như một thành tựu văn hóa:
“Lí luận văn học mácxit là một nhóm không thống nhất của nhiều lí thuyết có những giả thuyết cơ bản chung, cho rằng hạ tầng cơ sở xã hội (quan hệ sản xuất) thượng tầng kiến trúc xã hội (chẳng hạn như Luật pháp, Tôn giáo và Nghệ thuật) quan hệ với nhau. Lí luận văn học mácxit nhất trí với nhau ở chỗ quan niệm rằng văn học cũng cần được nhận biết trong mối quan hệ của hiện thực xã hội ấy. Xuất phát điểm của lí luận này không phải là những hình mẫu ngôn ngữ mà chính là vấn đề chức năng xã hội của văn học. Cũng chính vì thế, tầm quan trọng và vai trò của văn học trong các lí thuyết này được chú trọng rất khác biệt nhau”(1).

Trước đó, trong cuốn Bách khoa thư về lí luận văn hóa và lí luận văn học được xuất bản tại Cộng hoà Liên bang Đức năm 1998, do Ansgar Nuening chủ biên, tác giả Sven Strasse đã phân tích tính khác biệt này: “Lí luận văn học mácxit là một khái niệm có tính tập hợp, nó bao quát rất nhiều tiền đề lí luận văn học khác nhau. Làm căn cứ cho điều này, chính là cái tính từ “mácxit” (ta có thể hiểu theo chủ nghĩa Marx hay có tính chất của chủ nghĩa Marx), hàm chứa trong nó không phải chỉ những giả thuyết nền tảng rất chung về bản chất của văn học và ngôn ngữ, mà phần nhiều nó hàm chứa những nét tương đồng trong sự đánh giá về những hoàn cảnh và sự phát triển của triết học, lịch sử, chính trị và kinh tế- xã hội. Các công trình của K. Marx và F. Engels mới chỉ nêu ra được những tư tưởng có tính tổng quát và có tính nguyên tắc về văn hóa và văn học. Những diễn giải khác nhau và tầm ảnh hưởng tương đối của những tư tưởng này đã tạo nên cơ sở cho nhiều trào lưu khác nhau trong lí luận văn học mácxit ở phương Tây”(2).
Yêu Thầm 99 Ngày 
Sự quy chiếu vào nền tảng duy vật chủ nghĩa trong tư tưởng của Marx và gắn với nó là quan điểm coi lịch sử như là hệ quả của các cuộc đấu tranh nhằm kiểm soát nền tảng vật chất của sự tồn tại nhân loại đã trở thành cái chung của mọi lí luận văn học mácxit. Dưới quan điểm cho rằng những điều kiện vật chất của tồn tại quyết định ý thức của con người, thì sự quan sát văn học một cách biệt lập mà không đề cập tới những điều kiện vật chất làm nền tảng sẽ bị coi là vô nghĩa. Ở chừng mực nào đó, lí luận văn học mácxit vẫn còn thỏa mãn được với hình mẫu mô tả sự ảnh hưởng của các quan hệ sản xuất, cái được gọi là hạ tầng cơ sở, tới những hiện tượng thuộc ý thức như văn học, một lĩnh vực thuộc thượng tầng kiến trúc. Theo quan điểm này thì nó phải chứng minh sự ảnh hưởng của những nhân tố vật chất mà cụ thể là của quan hệ sản xuất tới văn học. Mối quan hệ giữa hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc chặt chẽ đến mức độ như thế nào, thì vẫn còn là một trong những vấn đề có tính quyết định trong lí luận văn học mácxit. Các ý kiến của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx, dường như chưa có thể cắt nghĩa một cách đầy đủ vấn đề này, bởi vì họ mới chỉ đề ra những tiên đề để luận giải tiếp theo. Engels đã viết như sau: “Sự phát triển về chính trị, luật pháp, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, v.v… đều dựa trên sự phát triển kinh tế. Nhưng tất cả chúng đều phản ứng qua lại lẫn nhau và phản ứng lại nền tảng kinh tế. Không chỉ có tình trạng kinh tế được coi là nguyên nhân tác động chủ động và tất cả những thứ khác thì chỉ tác động một cách thụ động. Mà còn có sự tương tác vào hạ tầng cơ sở một cách tất yếu về kinh tế được công nhận ở cấp độ cuối cùng”(3).

Theo đó, ở bình diện thứ nhất lí luận văn học mácxit cần phải phân biệt, rằng ảnh hưởng của hạ tầng cơ sở tới thượng tầng kiến trúc được nhận thức như thế nào và tác động trở lại của thượng tầng kiến trúc tới hạ tầng cơ sở được nhận thức mạnh mẽ đến như thế nào.
Yêu Thầm 99 Ngày 
Nguồn gốc thứ hai có tính quyết định đối với tính phức tạp của lí luận văn học mácxit liên quan tới cơ sở nhận thức luận. Theo Marx, chỉ sự lao động có tính tự nguyện mới tạo điều kiện tiếp xúc tới thế giới khách thể, cái bảo đảm niềm tin cho chủ thể, để nó cảm nhận thế giới một cách hài hòa. Nếu sự liên kết hài hòa của chủ thể và khách thể bị chia cắt bởi sự tha hóa của lao động trong những quan hệ sản xuất định hướng giá trị có tính chất trao đổi thực sự và quan điểm về thế giới khách quan bị bóp méo một cách tất yếu ở tính chất ý thức hệ, vấn đề đặt ra ở đây, là liệu nhà lí luận mácxit có thể nào lảng tránh những hạn chế về những khả năng nhận thức. Câu trả lời cho vấn đề chủ thể bị giới hạn về khả năng nhận thức của họ mạnh như thế nào, thì sẽ có tính hợp lí và tính quyết định đối với lí luận văn học mácxit tương ứng như thế ấy. Đối với những mục tiêu của sự định hướng đầu tiên và những biến thái của lí luận văn học mácxit người ta có thể xếp đặt phạm vi của nó theo bốn trào lưu sau đây:

1- Trào lưu coi trọng tính lệ thuộc cao của thượng tầng kiến trúc vào hạ tầng cơ sở và khái niệm ý thức hệ khép kín

Lí luận văn học mácxit với đặc tính nổi bật này đã được mở rộng một cách đặc biệt trong khoa nghiên cứu văn học ở các nước chủ nghĩa xã hội Đông Âu và Liên Xô cũ. Đảng Cộng sản với tư cách là đội tiền phong của giai cấp công nhân vừa được coi là người mang ý thức giai cấp vô sản trong tình huống cần phải nhận thức những điều kiện vật chất khách quan. Ở chừng mực nào đó, Đảng không chỉ tiếp nhận vị trí đặc biệt trong đời sống chính trị mà còn ở trong đời sống sáng tạo văn học. Đồng thời, cũng như luận đề này, các hiện tượng văn hóa đã phản ánh thực trạng không đứt đoạn của các quan hệ sản xuất. V. Zirmunskij, một nhà nghiên cứu văn học so sánh của Liên Xô, cũng đã suy nghĩ như vậy khi nhìn thấy trong một thời gian dài, ở mọi nền văn học châu Âu cái hệ quả tương tự của các trào lưu và các khuynh hướng phong cách văn học trong tác phẩm. Ông viết: Phục hưng, Barock, Chủ nghĩa cổ điển, Chủ nghĩa lãng mạn, Chủ nghĩa hiện thực, Chủ nghĩa tự nhiên, và Chủ nghĩa hiện đại và – trong thời đại chúng ta với sự bắt đầu của thời đại mới trong sự phát triển xã hội- chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa thể hiện một trình độ phát triển mới và cao hơn của chủ nghĩa hiện thực. Sự tương ứng này có thể là một trường hợp không thể có được. Nó bị chi phối phần nhiều bởi những phát triển xã hội tương tự ở các dân tộc liên quan có tính lịch sử”(4).
Yêu Thầm 99 Ngày 
Về phương diện sự giản dị trí tuệ có tính hiển nhiên của loại hình này thì cũng không có gì là đáng ngạc nhiên, khi mà những nhà mácxit phương Tây đang tìm cách xa lánh các quan điểm “mácxit dung tục” như thế. Theo Sven Strasse thì “từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, thì lí luận văn học mácxit kiểu này hầu như không còn giữ được vai trò của nó, và một sự phục hưng của trào lưu này trong thời gian tới cũng khó lòng mong đợi”(5).

Trong đó ảnh hưởng của nhà lí luận như G. Lukacx, người đại diện cho quan điểm có cấu trúc tương tự một cách đa chiều hơn và sắc sảo hơn, cũng đã biến mất. Đó là phản ánh luận. Thực ra, người đặt nền móng cho phản ánh luận, trước hết, chính là V.I. Lenin. Trong cuốn Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa phê phán kinh nghiệm năm 1908 của mình, ông đã phát triển thành một quan điểm có tính khái quát của việc nghiên cứu văn học nghệ thuật theo chủ nghĩa Marx. Theo ông thì sự nhận thức như là một sự phản ánh trong những hình ảnh tư duy của thế giới khách quan, sự phản ánh này được nhận thức là có tính nguyên tắc. Trong đó, nhận thức là một quá trình lịch sử của sự tiếp cận chân lý tuyệt đối, mà chân lý này thực tế tồn tại bên ngoài ý thức. Trong những năm sáu mươi của thế kỷ XX, G. Lukacx đã nắm bắt phản ánh luận của Lenin và cấu trúc nó thành một Mĩ học khái quát (Đặc trưng của mĩ học, 1963). Lukacx coi nghệ thuật chỉ là hình thức đặc biệt của sự phản ánh: nó mô tả hiện thực khách quan ở một cách thức đặc biệt của nó như là một sự mô phỏng, có nghĩa như là một nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa. Năm 1970, trong cuốn Lí luận mĩ học, Th.W. Adorno đã phê phán tính cách mô phỏng này của nghệ thuật. Theo ông thì nghệ thuật không phải là hình ảnh mà cũng không phải là sự nhận thức. Thay vì nắm bắt hiện thực theo cách làm điệu làm bộ, nghệ thuật sáng tạo ra cái mật mã của trạng thái lịch sử của hiện thực chứ không phải là hình ảnh. Chính từ quan điểm đó, Adorno, với phê phán luận của mình đã xây dựng xã hội học văn học về sau.

2- Trào lưu coi trọng tính lệ thuộc cao của thượng tầng kiến trúc bởi hạ tầng cơ sở và khái niệm ý thức hệ cởi mở
Yêu Thầm 99 Ngày 
Các nhà lí luận như thế đã luận giải một cách vất vả, các vấn đề có tính lôgic và trực tiếp là vấn đề nhận thức luận, họ đánh giá một cách hoài nghi về những khả năng khắc phục sự xuyên tạc về ý thức hệ của nhận thức hiện thực như là tính liên tục của các ảnh hưởng được lưu giữ một cách mạnh mẽ của hạ tầng cơ sở đối với thượng tầng kiến trúc.

Người đại diện có nhiều ảnh hưởng nhất cho thái độ này là nhà lí luận văn học người Mỹ tên là F. Jameson. Ông này tiếp nhận quan niệm về cái tổng hòa (Totalitaet) xã hội mà nhân tố quyết định của nó là tình trạng của các quan hệ sản xuất. Đồng thời xuất phát từ đây, ông cho rằng, trong xã hội truyền thống của chủ nghĩa tư bản cuối kì, nền tảng kinh tế luôn luôn gây ra ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực của thượng tầng kiến trúc mà về lâu về dài thì nó vẫn còn có được sự tự trị tương đối nào đó. Quá trình này còn tiếp tục tiến triển, khi mà cái lĩnh vực bị chặt đứt khỏi cái lôgic của nền tảng mà xuất phát từ đó có khả năng là sự phê phán ý thức hệ không còn nữa. Ý thức hệ này tồn tại khắp mọi nơi một cách đơn giản hoặc là bằng những lời sau đây của Jameson: “Tất cả đều là ý thức hệ không có gì khác ngoài ý thức hệ”. Những quan điểm như thế của Jameson nhằm bảo vệ cho sự chi phối mạnh mẽ của hạ tầng cơ sở tới kiến trúc thượng tầng và cho một khái niệm ý thức hệ rất cởi mở, đã rơi vào nguy cơ không thể tránh được của mâu thuẫn rất phức tạp cần được kết thúc. Nếu tất cả mọi quan điểm đều bị xuyên tạc về ý thức hệ thì cái luận chứng phù hợp với nó cũng cần phải được đánh giá như là cái luận chứng có tính lôgic đối với những luận đề riêng của Jameson. Tuy nhiên, cả những sự thuyết phục sâu sắc về lí thuyết lẫn những phân tích cụ thể các hiện tượng văn hóa đều được trình bày với một kỳ vọng có tầm quan trọng đặc biệt, và thế là một vấn đề được đặt ra: “Do những gì nhà chức trách đang thực hiện, Jameson hiện đang kêu gọi sự tự do về ý thức hệ”. Vấn đề này vẫn được lưu giữ một cách có tính quyết định đối với tất cả lí luận văn học mácxit theo kiểu này. Jameson đề xuất ở đây một ý thức giai cấp có tính tương lai và tính tập thể như là một khả năng cho sự kiềm chế về ý thức hệ.

F. Lentricchia, một người cũng như Jameson, đang theo đuổi một dự đồ lí thuyết tương tự dưới sự nhận thức lại những ý tưởng của M. Foucault, thì lại suy nghĩ ngược lại, để có thể kết thúc hoàn toàn ý kiến về sự đòi hỏi sự thật. Nếu những giải pháp này về lí thuyết cũng bắt đầu từ điều kiện tiên quyết là hạ tầng cơ sở, thì chúng cũng che dấu luôn cái luận đề cho rằng những chủ thể cá nhân có thể không hợp thức hóa những biểu đạt có kì vọng chân lý, những vấn đề lớn trong thao tác cụ thể bằng văn bản. Thêm vào đó, tính cách lời hiệu triệu, là cái đã nội trú trong diễn ngôn mácxit, bởi những quan điểm như vậy đang được đặt vấn đề một cách mạnh mẽ.
Yêu Thầm 99 Ngày 
3- Trào lưu coi trọng mức độ cao của tính tự trị của thượng tầng kiến trúc và khái niệm ý thức hệ cởi mở

Trong chủ nghĩa Marx ở phương Tây, đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ hai, đã diễn ra một sự khước từ cái mô hình có tính cơ học: hạ tầng cơ sở – thượng tầng kiến trúc. Những nguyên cớ bản chất như vậy đã làm nẩy sinh trường phái Franfuhrter ở Đức. Th.W. Adorno đã phát hiện ra sự đối sánh giữa hai khuynh hướng, nhằm giảm thiểu cái khách thể phức tạp ấy thành giá trị trao đổi và sự nỗ lực để đồng nhất hóa những hoàn cảnh khác nhau nhất cùng với sự giúp đỡ của những quan niệm có tính khái niệm. Theo Adorno thì “bản sắc chính là hình thái nguyên khởi của ý thức hệ”. Bởi vậy, khái niệm ý thức hệ lan tỏa vào mọi kiểu tư tưởng đồng nhất hóa. Đối với mô hình – hạ tầng cơ sở – thượng tầng kiến trúc cổ điển, thì những hiện tượng thượng tầng kiến trúc phức tạp luôn bị giảm thiểu thành sự phản ánh trần xì hạ tầng cơ sở kinh tế không còn vị trí trong tư tưởng này. Cho nên một lĩnh vực cần được tìm kiếm là lĩnh vực mà trong đó những hiện tượng phức tạp này bị bác bỏ ở sự đúng đắn của chúng và trong đó chúng không bị giảm thiểu thành những khái niệm chung có tính đồng nhất hóa.

Sự đặc biệt của trường phái Frangfuhrter và ở đây trước hết của Adorno tồn tại ở chỗ, nó mang lại cho nghệ thuật và cho cả văn học cái năng lực để thoát khỏi ý thức hệ. Điều này rất cần thiết đối với nghệ sĩ phương Tây. Ở đây mĩ học trở thành điểm lẩn tránh của những cái phức tạp. Điều này cắt nghĩa cho sự thiên vị sau này của trường phái Frangfuhrter đối với những thử nghiệm mĩ học của chủ nghĩa hiện đại cổ điển và sự xa lánh chủ nghĩa hiện thực.

Trên những cơ sở hoàn toàn khác, chính là sự liên kết những luận điểm của cấu trúc luận và phân tâm luận, L. Althusser tìm cách kiềm chế những quan điểm mácxit thông tục và phát triển tiếp tục khái niệm ý thức hệ. Một mặt Althusser cố gắng giải thích một cách mới mẻ mối quan hệ của cái toàn thể đối với các bộ phận của nó. Có lẽ không phải, hình mẫu – hạ tầng cơ sở – thượng tầng kiến trúc có tiền đề như thế nào, khi một hệ thống có bản chất nội tại chỉ bộc lộ trong những hiện tượng đơn lẻ. Hơn nữa theo Althusser thì các lĩnh vực thượng tầng kiến trúc khác nhau có một “sự tự trị tương đối” và tuân theo lôgic phát triển riêng của nó. Những sự kiện đơn lẻ được tái định nghĩa là những kết quả của những tương tác đồng bộ giữa các tiểu hệ thống quan trọng bởi những tiểu hệ thống khác nhau. Đồng thời sự tự trị tương đối này khiến cho những hệ thống cục bộ khác nhau có thể cùng nhau rơi vào sự mâu thuẫn.
Yêu Thầm 99 Ngày 
Đối với sự phát triển tiếp tục của lí luận văn học mácxit thì lí luận ý thức hệ còn quan trọng hơn. Theo như Althusser thì, cái đơn nhất có thể tồn tại mà không có sự nhận thức chân lí, rằng sự tồn tại cá thể của nó đối với chức năng của cấu trúc xã hội hoàn toàn là không đáng kể. Với ý thức hệ, mọi sự phán xét sai lầm về hiện thực được coi là cái chuyển tải ảo tưởng tới cho cá nhân để có ảnh hưởng quan trọng tới toàn bộ hệ thống, mà hệ thống này lại có thể được xem xét vừa như là chủ thể có tính kinh điển và vừa không phải là người mang tải một cách trần trụi những chức năng xã hội. Đồng thời, cái ảo tưởng này tạo điều kiện cho cái chủ thể có tính xác định này bởi nhiều ảnh hưởng khác nhau để có được cái bản chất tự trị và ổn định. Với điều này, Althusser đã tự mở rộng phạm vi của ý thức hệ từ sự nhận thức thế giới khách quan sang thể chế của các chủ thể.

Trong mọi sự so sánh của những điều kiện tiên quyết của nó, các lí thuyết của Althusser và Adorno về lí luận văn học có rất nhiều kết quả khác nhau: trong khi ở trường hợp này, văn học cần được nghiên cứu ở tiềm năng phê phán ý thức hệ, thì trong trường hợp khác nó là sự biểu đạt quan điểm ý thức hệ của các cá nhân và do vậy nó tạo ra một cơ may để làm sáng tỏ ý thức hệ. Tuy nhiên cả hai lý thuyết đều có một điểm chung, đó là khi chúng phát hiện ra rằng lí luận văn học mácxit đã trở thành sự gợi mở những trào lưu lí luận văn học khác như trào lưu lí luận văn học cấu trúc luận và trào lưu lí luận văn học phân tâm học.

4- Trào lưu coi trọng mức độ cao của tính tự trị của thượng tầng kiến trúc và khái niệm ý thức hệ khép kín

Phần lớn lí luận văn học mácxit đương thời đã phát triển trong sự kế thừa Althusser và những mô hình thông qua sự tiếp nhận cấu trúc luận đã tách rời ông, mà trong đó cái ưu thế của hạ tầng cơ sở chỉ thể hiện rất gián tiếp. Đồng thời cần phải tìm cách để thoát khỏi những mâu thuẫn chằng chịt, mà cái mâu thuẫn này được chứa đựng trong khái niệm ý thức hệ cởi mở, mà cũng chẳng cần phải chối bỏ tiềm năng phê phán xã hội của quan niệm này. Con đường thông thường để đi ra khỏi tình thế nan giải này là sự nỗ lực tạo ra những cơ sở nhận thức luận với sự trợ giúp của những công trình của Marx thời trẻ, mà cùng với sự giúp đỡ này, tối thiểu, con đường tiềm tàng dẫn tới nhận thức của cái thực tế không bị bóp méo về ý thức hệ có thể được đánh giá một cách cởi mở. Trên cơ sở này, với khát vọng chân lý, thì sự phê phán ý thức hệ cần phải hình thành.
Yêu Thầm 99 Ngày 
Trong những công trình mới của mình, T. Eagleton, nhà lí luận văn học người Anh, người đại diện cho quan điểm, cho rằng các nhu cầu khách quan và cùng với nó là các chuẩn mực duy lý có thể được sản sinh ra từ ngày tháng siêu thời gian của cơ thể con người. Lao động, tình dục, và những liên động xã hội trở thành xuất phát điểm cho việc phân tích nhu cầu khách thể, mà trước bối cảnh đó, sự đòi hỏi và tính hiện thực của những cấu trúc xã hội có thể được so sánh bên nhau một cách có tính phê phán ý thức hệ. Nếu sự toan tính liên quan tới điều này nhằm cấu trúc lại đạo đức, chính trị, lịch sử và tính duy lí theo cái căn bản của cơ thể, thì như vậy, nó cần phải tạo ra cơ sở cho lí luận văn học mácxit và phê bình văn hóa mácxit. Cái vị trí đồng đẳng mà Eagleton dành cho lao động và tình dục, chính là sự biểu đạt của cái khuynh hướng nhằm khám phá lí luận văn học mácxit cho những trào lưu khác, ở đây là cho lí luận văn học nữ khuynh (có nữ tính). Trong khi ở trường hợp Eagleton, mảnh đất của diễn ngôn mácxit không bị ruồng bỏ, thì một vài trường hợp khác của những thử nghiệm có tính khám phá hầu như không được nhận thức là lí luận văn học mácxit. Trong những năm gần đây thường có một nỗ lực nhằm gắn kết các quan điểm mácxit và quan điểm của chủ nghĩa hậu cấu trúc. Những cấu trúc lí luận xuất hiện trong đó thực chất thường tự im lặng, chia tay với nền tảng nhận thức luận không thể phủ nhận đối với chủ nghĩa Marx (thí dụ Ryan 1982)(6).

Những yếu tố của lí luận văn học mácxit như khái niệm ý thức hệ cũng hấp dẫn đối với những nhà lí luận như thế, là những người không phải được chất đầy những gì vốn thuộc về diễn ngôn mácxit. Do vậy những trào lưu lí luận văn học đạt được thành công cao nhất như Tân Chủ nghĩa lịch sử và chủ nghĩa duy vật đã được hình thành trên cơ sở của cái hợp đề phong phú của những luận điểm của chủ nghĩa Marx, của chủ nghĩa hậu cấu trúc và của chủ nghĩa lịch sử. Đặc biệt, duy chỉ Tân Chủ nghĩa lịch sử có thể không được tính vào lí luận văn học mácxit, bởi vì nó không tán đồng những mục tiêu đã đặt ra của chủ nghĩa Marx.

Tìm hiểu một số trào lưu lí luận văn học mácxit ở một số nước phương Tây hiện nay, chúng ta có thể nhận thấy mấy đặc điểm sau:

1. Có thể nói, đã gọi là lí luận văn học mácxit thì cấu trúc: hạ tầng cơ sở – thượng tầng kiến trúc là hòn đá tảng về phương pháp luận; “bởi vì chủ nghĩa Marx đã chứng tỏ là một trào lưu duy vật chủ nghĩa quan trọng nhất của thế kỉ XX, cho nên khái niệm khoa nghiên cứu văn học mácxit được sử dụng gần như từ đồng nghĩa với lí luận văn học mácxit” (Seven Trassen)(7). Hay nói một cách khác lí luận văn học mácxit được xác định với tính chất duy vật chủ nghĩa của nó.
Yêu Thầm 99 Ngày 
2. Sự biến thái của các trào lưu lí luận mácxit biểu hiện ở thái độ của chúng khi xem xét mối quan hệ của hai thành tố này, cái gì lệ thuộc cái gì, liệu có tính tự trị tương đối trong mối quan hệ này hay không?

3. Việc xác định tính tự trị tương đối của thượng tầng kiến trúc và xác định biên độ khép kín hay cởi mở của ý thức hệ sẽ là nguyên tắc cho những đổi mới của lí luận văn học mácxit như đã diễn ra ở phương Tây.

4. Quan điểm quyết định luận trực tiếp dù là kinh tế, chính trị, công nghệ hay kĩ thuật quyết định, đều chỉ dừng lại ở sự luận giải cái khách thể của văn hóa và văn học, còn vai trò rất quan trọng đối với sự sáng tạo văn hóa và văn học là chủ thể lại không được xem xét một cách thấu đáo, do đó nhiều khi người ta không thể luận giải một số vấn đề xẩy ra trong tiến trình văn học. Chẳng hạn, không phải bất cứ lúc nào, sự phát triển của văn hóa nghệ thuật lại thuận chiều với sự phát triển của những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội. Văn học nghệ thuật cần có những hình mẫu chủ thể có tầm nhìn xa và có tính dự báo. Thậm chí, ngay lúc này, giả thử chúng ta vận dụng quan điểm quyết định luận trực tiếp coi hạ tầng cơ sở có vai trò quyết định đối với thượng tầng kiến trúc để xem xét hai mươi năm đổi mới của đất nước, rõ ràng hạ tầng cơ sở đã thay đổi nhiều rồi thì liệu thượng tầng kiến trúc trong đó có văn học và cả lí luận văn học đã có gì thay đổi. Lí luận văn học lí giải như thế nào các khuynh hướng văn học của ta hiện nay còn là vấn đề bỏ ngỏ.

Nên chăng coi những đặc điểm trên trong các trào lưu lí luận văn học mácxit này như là những gợi mở trong sự đổi mới lí luận văn học của ta hiện nay? Câu trả lời chỉ có thể tìm thấy trong tư duy và trong thực tiễn hoạt động lí luận văn học1

______________

(1) Hanes Fricke: Lí luận văn học mácxit, trong Bách khoa thư về văn hóa thời đương đại, do Ralf Schnell chủ biên, xuất bản 2000, Stuttgat – Weimar, tr.341.

(2), (5), (7) Sven Strasse: Lí luận văn học mácxit, trong Bách khoa thư về lí luận văn hóa và lí luận văn học, do Ansgar Nuening chủ biên, xuất bản 1998, Stuttgat – Weimar.

(3) F. Engels: Thư gửi W. Borgius ngày 25.1.1894, trong Tác phẩm của Marx và Engels(Do Viện Chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Lenin thuộc Ban chấp hành TW Đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức, tập 39, Berlin, 1968, tr.205-207.
Yêu Thầm 99 Ngày 
(4) V.M. Zirmunskij: Những trào lưu văn học với tư cách là những hiện tượng quốc tế. Trong sách Nghiên cứu so sánh. Những nhiệm vụ và phương pháp do H. Ruediger xuất bản, Stuttgat, 1973, tr.104-106.

phim Lý Tiểu Long

phim Lý Tiểu Long
phim Lý Tiểu Long


phim Lý Tiểu Long

tuyển tập phim Lý Tiểu Long, Tinh Võ Môn, Tử Vong Du Hí, Đường Sơn Đại Huynh, Mãnh Long Quá Giang, Huyền Thoại Lý Tiểu Long, những bộ phim huyền thoại này được nhiều người xemaxassa


Trần Đình Sử
phim Lý Tiểu Long
Trên thế giới thế kỉ XX được mệnh danh là thế kỉ của phê bình. Đó là vì phê bình xuất hiện nhiều trường phái thay thế nhau, tranh luận nhau, đặt ra hàng loạt vấn đề thiết yếu của đời sống văn học. Phê bình văn học vươn lên thành một hoạt động độc lập với văn học, có tác động tích cực trở lại đối với tiến trình văn học hiện đại. Trong trào lưu đó lý luận về phê bình phát triển mạnh, trở thành một bộ môn được giảng dạy trong các trường đại học, xuất hiện nhiều giáo trình lý luận nghiên cứu và phê bình văn học, có tạp chí riêng về phê bình.

So với các nước trên thế giới, phê bình văn học Việt Nam phát triển muộn. Chúng ta chỉ mới có phê bình văn học hiện đại bắt đầu từ những năm 1930 – 1940 của thế kỷ XX. Bước vào cuộc chiến tranh cứu nước 30 năm và cho đến nay phê bình văn học Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
phim Lý Tiểu Long
Bản Đề cương văn hoá năm 1943 có thể coi là bản tuyên ngôn về tư tưởng và phê bình văn học Macxit Việt Nam, và lý luận phê bình văn học Macxit là lý luận độc tôn. Từ ngày Đổi mới 1986, với ý thức tự cởi trói, lý luận về phê bình mới được mở rộng, các lý luận về phê bình ở phương Tây cũng như phê bình phi chính thống ở Liên Xô, Đông Âu mới dần dần được giới thiệu và ít nhiều được vận dụng. Nhìn chung sự giới thiệu còn quá ít ỏi và sơ sài, hoàn toàn còn xa mới có thể làm cho phê bình văn học Việt Nam có khả năng giao lưu với thế giới.

Trong bài này chúng tôi chủ yếu chỉ đề cập tới lý luận về phê bình văn học, chứ chưa nói tới thực trạng phê bình văn học. Giữa lý luận và thực tiễn luôn luôn có sự không ăn khớp, nhưng cũng như Lênin nói không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng, ta cũng có thể nói không có lý luận về phê bình văn học thì phong trào phê bình văn học cũng khó mà phát triển, phồn vinh. Nhưng có lý luận về phê bình cũng không tất yếu là có ngay được một nền phê bình văn học tốt. Chẳng hạn, theo chúng tôi biết lý luận về phê bình văn học Trung Quốc hiện nay khá đa dạng, nhưng tình hình phê bình văn học thì còn kém cỏi. Nhà phê bình Trung Quốc là Cát Hồng Binh thậm chí đã viết lời “ai điếu” cho văn học và phê bình văn học Trung Quốc những năm 90. Ông cho rằng “phê bình bỏ trống” và “dung tục hoá” (xem Báo văn nghệ, ngày 21/3/2000, Trung văn). Tình hình phê bình văn học Việt Nam từ những năm 90 trở lại đây cũng có nhiều mặt tương tự. Nhưng lý luận về phê bình vẫn là vấn đề đáng được quan tâm, bởi ở đây còn nhiều nhận thức cũ kĩ, bất cập.
phim Lý Tiểu Long
1. Về khái niệm phê bình văn học

Tới đầu những năm 30 thế kỷ XX cùng với sự bùng phát của phê bình văn học, một số người hiểu phê bình là một “thể loại văn học mới”. Quan niệm đó cũng có ở châu Âu, xem phê bình là một thể loại sáng tác của văn học. Nhà lí luận Nga hiện đại B.X. Buôcxôp có bài tiểu luận nhan đề Phê bình với tư cách là văn học (1975), nhấn mạnh phê bình muốn là phê bình văn học thì phải thật sự hiểu biết sáng tác nghệ thuật, có tài năng cảm thụ nghệ thuật(1) . Nhà phê bình Nga khác là X.Chubrinin cho rằng phê bình giống như văn học ở chỗ nó phải có tác giả, có tư tưởng, có cá tính sáng tạo, bởi lịch sử phê bình gắn với các cây bút phê bình(2). Ngoài các điểm ấy ra, phê bình không phải là văn học. Nhà phê bình văn học Pháp F. Brunetière (1849-1906) đã viết: “Nghiêm khắc mà nói, phê bình văn học không phải là một thể loại của văn học. Nó chẳng có gì giống với kịch, tiểu thuyết, thơ ca, đúng hơn nó đứng ở vị trí đối diện với các thể loại văn học, bởi nó là ý thức thẩm mĩ của chúng, là sự phán xét đối với chúng”. (Mục “Phê bình văn học” trong Đại bách khoa toàn thư, trích theo R.Fayolle)(3). Fayolle xem ý kiến của Brunetière chưa đủ tầm. Theo ông, phê bình văn học phải kiêm bị cả học vấn triết học và khoa học, là một hoạt động cao quý nhất của các nhà văn nhân học giả. Chúng tôi muốn nói thêm, phê bình văn học không phải là văn học, bởi văn học cho phép được tưởng tượng, hư cấu để sáng tạo ra hình tượng, còn phê bình thì không được quyền bịa đặt, hư cấu, sáng tạo luận cứ. Nó là một công việc khoa học, khách quan, xác thực, và chỉ như thế nó mới có giá trị. Việc các nhà văn nhà thơ tham gia vào phê bình văn học là rất tốt, nhưng nếu họ mang theo cả năng lực hư cấu bẩm sinh vào phê bình thì đó là một tai hoạ cho văn học.

2. Đối tượng của phê bình văn học
phim Lý Tiểu Long
Trong các sách lý luận văn học Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam cho đến nay khi xác định đối tượng của phê bình văn học đều khẳng định đó là các tác phẩm văn học đương đại, các tác phẩm văn học quá khứ không thuộc vào diện đối tượng của phê bình văn học. Theo đó các giải thưởng trao cho phê bình văn học cũng chỉ ưu tiên dành cho tác phẩm đương đại. Đó là một quan điểm cần được xem lại. Các sách lý luận văn học phương Tây có quan điểm khác. Ví dụ, René Wellek trong sách Lý luận văn học (viết chung với Warren) và trong sách Khái niệm phê bình phân biệt các bộ phận trong khoa văn học như sau: Phê bình văn học – nghiên cứu tác phẩm văn học cụ thể; Lý luận Văn học – nghiên cứu văn học trong tổng thể; Lịch sử văn học – nghiên cứu văn học trong trật tự thời gian. Như thế bất cứ việc nghiên cứu, thẩm định tác phẩm cụ thể nào nói chung đều thuộc vào lĩnh vực phê bình. Theo tôi, cơ sở để xác lập đối tượng của phê bình văn học là hoạt động tiếp nhận của người đọc. Trong mỗi thời đại, người đọc tiếp nhận tác phẩm văn học của mọi thời, chứ không riêng gì tác phẩm đương đại. Có tiếp nhận thì có nhu cầu tìm hiểu sâu và đánh giá, và từ đó có nhu cầu phê bình. Có thể có những cuộc điều tra xã hội học về người đọc, và kết quả có thể cho thấy người đọc quan tâm tác phẩm văn học đương đại nhiều hơn tác phẩm cổ điển, thì đó cũng không thể là căn cứ lý luận để xác định đối tượng của phê bình văn học chỉ là tác phẩm đương đại. Mặt khác, sự sáng tạo cái mới trong văn học đi theo hai con đường : một là sáng tạo tác phẩm mới, hai là phát hiện cái mới trong sáng tác quá khứ. Phê bình tác phẩm văn học quá khứ là khám phá cái có ý nghĩa đương đại trong văn học truyền thống, và đưa chúng vào cuộc sống đương đại. Hiện tượng phê bình Truyện Kiều trên Nam Phong hồi đầu thế kỷ XX là một hiện tượng lớn của phê bình văn học trong việc đưa tác phẩm cổ điển vào đời sống đương thời (cuộc tranh luận mang nội dung chính trị không che lấp được nội dung văn học của nó). Ngoài ra, việc phê bình tác phẩm văn học nước ngoài được dịch, mà tác phẩm ấy có thể là đương đại hay quá khứ (ví dụ tác phẩm của F.Kafka) vẫn quan trọng đối với người đọc hôm nay. Lấy khái niệm đương đại làm mốc thời gian thì cái mốc ấy luôn biến động. Nếu nói đối với hôm nay, thời đương đại tính từ 1975 hay từ 1986, thì hoá ra tác phẩm văn học trong giai đoạn 1945-1975, và xa hơn, tác phẩm thuộc giai đoạn 1932-1945… đều không phải là đối tượng phê bình cả hay sao? Đã đến lúc phải xác định lại: đối tượng phê bình văn học là tác phẩm văn học cụ thể, đúng hơn là văn bản cụ thể, bất kể là văn bản thuộc thời nào, miễn là có ý nghĩa thời đại, trở thành sự kiện của văn học đương đại. Ví dụ, Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh sáng tác năm 1942-1943, Truyện và Kí của Người sáng tác vào những năm 20 của thế kỉ XX rõ ràng là không phải tác phẩm đương đại. Song do được dịch và giới thiệu, trở thành sự kiện văn học đương đại. Và thực tế đã trở thành đối tượng của phê bình văn học những năm 60, 70. Có người cho rằng phê bình tác phẩm của người đang sống mới là phê bình, còn phê bình những người đã chết, đã xếp hạng thì không phải phê bình. Họ không hiểu rằng có những kẻ đã chết nhưng vẫn sống, còn những người sống thì có khi tác phẩm họ đã chết. Và tác phẩm đã xếp hạng do vẫn sống, lại càng đòi hỏi phải khám phá mới. Thực tế này cho thấy nhận thức về phê bình của nhiều nhà phê bình của ta đã không theo kịp thực tế của phê bình văn học trong nước. Còn việc nhiều nhà phê bình quan tâm tác phẩm đương đại là điều tự nhiên, bởi người đọc bao giờ cũng quan tâm nhiều hơn tới tiếng nói nghệ thuật của thời mình. Tuy nhiên cũng cần phải nói, không phải mọi tác phẩm đương đại đều là đối tượng của phê bình văn học, bởi chúng không nhất thiết là sự kiện văn học đáng kể. Phải là tác phẩm có một tính chất sự kiện nào đấy mới lọt vào mắt của giới phê bình. Là nhà phê bình văn học, anh ta có nghĩa vụ phát hiện lại những giá trị văn học quá khứ mà phê bình đương đại do nhiều lý do đã không đánh giá được, đánh giá sai hoặc im lặng.
phim Lý Tiểu Long
Nhưng câu chuyện đối tượng của phê bình văn học không chỉ giản đơn có thế. Tiếp nhận văn học và phê bình văn học là một hoạt động có tính lịch sử, là sản phẩm của lịch sử và biến đổi theo lịch sử. Phê bình văn học lúc đầu chỉ chú ý đến thể loại, quy tắc thể loại, chú ý tới chuẩn mực ngôn ngữ, phong cách ngôn ngữ, dần dần chuyển sang quan tâm tới bộ mặt tinh thần đạo đức của nhà văn, rồi dịch sang chú ý cá tính của nhà văn, phong cách nhà văn. Từ cá tính, phong cách nhà văn, phê bình chú ý tới tiểu sử, bối cảnh xã hội. Tiếp đến chú ý nội dung lịch sử, xã hội, ý thức hệ của tác phẩm. Mãi đến đầu thế kỷ XX phê bình mới bắt đầu chú ý đến văn bản, cấu trúc của tác phẩm và “tính văn học” của tác phẩm. Sau đó thì chú ý đến sự cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm, chú ý đến thế giới nghệ thuật, thi pháp của tác phẩm v.v… Như vậy đối tượng của phê bình văn học, tuy vẫn lấy tác phẩm làm đối tượng cơ bản, song tuỳ theo sự dịch chuyển điểm nhìn của chủ thể phê bình mà đối tượng phê bình có sự đổi thay đáng kể. Ngày nay câu chuyện đối tượng của phê bình gắn liền với trường phái và phương pháp phê bình. Không thể trả lời vấn đề này chỉ bằng một xác định duy nhất, một chiều như trước được.

3. Phê bình văn học và nghiên cứu văn học

Hiện nay có không ít quan niệm muốn tách phê bình văn học khỏi nghiên cứu văn học. Đó là một quan niệm ấu trĩ, bởi từ lâu người ta đã xác nhận phê bình văn học là một bộ phận của khoa nghiên cứu văn học, bên cạnh lý luận văn học và lịch sử văn học. Là một bộ phận của khoa nghiên cứu văn học, phê bình văn học tất yếu trước hết phải có tính nghiên cứu. Thiếu nghiên cứu thì phê bình văn học chỉ là sự khen chê tuỳ hứng, không có giá trị đáng tin cậy. Do đó có thể và cần phân biệt phê bình văn học với lý luận văn học, lịch sử văn học; nhưng phân biệt phê bình văn học với nghiên cứu văn học là không đúng, vì như vậy đồng nghĩa với việc tách phê bình ra khỏi khoa nghiên cứu văn học(4).
phim Lý Tiểu Long
Việc tách bạch, đối lập phê bình văn học với nghiên cứu văn học chẳng những không đúng, mà còn đi ngược lại truyền thống phê bình các nước phương Tây thế kỷ XX vốn là sự bùng nổ của phê bình văn học, hiện đang có ảnh hưởng lớn trên thế giới. René Wellek trong sách Khái niệm phê bình (1963) đã khẳng định vị trí của phê bình văn học thế kỷ XX: Thế kỉ XX xứng đáng được gọi là thế kỷ của phê bình, bởi vì “trong thế kỷ XX không chỉ có một ngọn trào phê bình đích thực xô đến chúng ta, mà phê bình văn học ấy cũng đạt đến một trình độ tự ý thức mới và chiếm một vị trí cao hơn nhiều so với trước ở trong tâm trí công chúng”. Trong các thứ tiếng ở các nước Anh, Mĩ, Pháp, Ý… do không có thuật ngữ “nghiên cứu văn học” cho nên trên thực tế “phê bình văn học” (la critique, criticism) bao hàm cả lý luận văn học, thi pháp học, phong cách học. Chúng ta không thể dựa vào sự phân biệt của mình để phế bỏ tập quán dùng từ của các nước đó, cũng như nhắm mắt không thừa nhận thành tựu của họ. Mà đã thừa nhận thì phải thấy ở đó có khuynh hướng phê bình văn học và lý luận văn học thậm chí cả lịch sử văn học đạt đến sự nhất thể hoá. Quan niệm phê bình văn học và lý luận văn học, lịch sử văn học nhất thể hoá đã ảnh hưởng đến Việt Nam, chi phối các công trình nghiên cứu ở Việt Nam. Trên thực tế các sách về phê bình văn học và lịch sử văn học của Thanh Lãng, các tuyển tập về lý luận, phê bình văn học của Nguyễn Ngọc Thiện, sách khảo luận văn học của Nguyễn Văn Trung, sách tác giả phê bình văn học của Mộng Bình Sơn, các bài nghiên cứu về phê bình văn học của Đỗ Lai Thúy, Trịnh Bá Đĩnh… đều đã đi theo khái niệm phê bình văn học hiểu theo nghĩa rộng ấy. Điều đó có nghĩa là khuynh hướng phê bình, lý luận nhất thể hoá của thế giới phương Tây cũng từ lâu đã trở thành tập quán, thậm chí truyền thống của Việt Nam. Việc không nhìn thấy sự thực này cũng chứng tỏ một số nhà phê bình văn học của ta đã lạc hậu so với thực tế. Thực ra, sự phân biệt ba bộ phận của ngành nghiên cứu văn học chỉ là trên lý thuyết, trong thực tiễn, hoàn toàn không phải lúc nào cũng dễ dàng tách bạch ba bộ phận đó với nhau.
phim Lý Tiểu Long
Khuynh hướng nhất thể hoá phê bình và lý luận văn học trong thế kỷ XX xảy ra là do trình độ tự ý thức của phê bình văn học lên cao, người ta muốn tiếp cận tác phẩm từ nhiều góc độ. Các nhà phê bình đã vận dụng nhiều lý thuyết ngoài văn học như xã hội học, phân tâm học, cấu trúc luận, ngôn ngữ học, kí hiệu học, lý thuyết thông tin, văn hoá học, nhân loại học, tư tưởng nữ quyền…, xác lập lối phê bình liên ngành để nhìn văn học trong rất nhiều mối quan hệ với cuộc sống con người. Khuynh hướng “nhất thể hoá” có lúc làm cho phê bình xa rời văn học, đó là một nhược điểm cần được nhìn thấy, nhưng không thể vì “sự nhất thể hoá” mà phủ nhận cả một trào lưu phê bình văn học của thế giới.

Trong thực tế, không phải toàn bộ nền phê bình văn học đều nhất thể hoá với lý luận văn học. Ở đây cần có một sự phân loại phê bình. Theo Alber Thibaudet (1874-1936), nhà phê bình văn học Pháp kiệt xuất trong sách Sinh lý học phê bình văn học (giảng bài năm 1922, in thành sách năm 1930) thì có thể chia phê bình thành ba loại: 1. Phê bình miệng, về sau chuyển thành phê bình báo chí, truyền hình; 2. Phê bình nghệ sĩ bậc thầy; 3. Phê bình học giả chuyên nghiệp. Tác giả J.Y. Tadié trong sách Phê bình văn học thế kỷ XX cũng tán thành cách chia đó. Nhà lý luận văn học Mỹ H.Abrams trong sách Từ điển thuật ngữ văn học chia phê bình văn học thành hai loại: 1. Phê bình thực dụng và 2. Phê bình lý thuyết. Đáng tiếc là Abrams đã đồng nhất phê bình lí thuyết với lí luận văn học, như thế không đúng. “Phê bình thực dụng” là toàn bộ sự phê bình hướng tới sự khen, chê, khẳng định, phủ định, thường thức, hưởng thụ nghệ thuật. Phê bình lý thuyết chỉ loại phê bình vận dụng một lý thuyết để mở ra một giới hạn mới trong việc lý giải, cắt nghĩa, đánh giá hiện tượng văn học. Đó là vùng giao thoa giữa lý luận văn học và phê bình văn học, hoàn toàn không phải là dùng tác phẩm cụ thể để nghiệm chứng một lý thuyết, mà phải là hướng tới khám phá các giá trị nghệ thuật, thẩm mĩ và tư tưởng của văn học.

4. Chức năng của phê bình văn học
phim Lý Tiểu Long
Phê bình văn học cần cho nhà văn, cho người đọc, cho văn học và cho toàn xã hội. Xét về mặt xã hội, phê bình văn học có thể là công cụ của đạo đức, của chính trị, có khi chính trị là tiêu chuẩn phê bình số một, nghệ thuật là tiêu chuẩn số hai. Việc lạm dụng chức năng đạo đức và chính trị đã dẫn đến thói quen xem nhẹ tính nghệ thuật, nhiều khi quy chụp, đẩy việc phê bình văn học sang địa hạt đấu tranh chính trị. Xét về mặt đặc thù, chức năng hàng đầu của phê bình văn học là chức năng thẩm mĩ, tức khám phá các giá trị tư tưởng – nghệ thuật của sáng tác. Nhà phê bình phải có tư duy nghệ thuật để thâm nhập vào tác phẩm, phát hiện các giá trị thẩm mĩ. Nhưng nhà phê bình khác người đọc thông thường là phải biết tư duy lý thuyết để vượt qua cảm nhận giản đơn, nêu ra các vấn đề có ý nghĩa quy luật đối với văn học. Phê bình không giản đơn là “đọc hộ” người đọc theo cách thông thường, mà phải đưa ra cách cắt nghĩa, cách lý giải về quan niệm nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn. Trong trình độ lý luận hôm nay, sự cắt nghĩa của nhà phê bình chỉ là một cách trong nhiều cách có thể có, miễn là có lý, phù hợp với đặc trưng của thế giới nghệ thuật. Không có nhà phê bình nào có thể nắm trọn hay độc quyền về chân lý trong phê bình, bởi vì cấu trúc nghệ thuật cho phép có nhiều cách cắt nghĩa, và thái độ đối thoại cũng không thừa nhận độc quyền, dù là đối với nhà phê bình lỗi lạc nhất. Do vậy khái niệm chức năng của phê bình phải bao hàm khái niệm về giới hạn, sự đa dạng và sự vận động của phê bình.

Phê bình văn học hôm nay không chỉ là thưởng thức mà còn là sự khám phá các giá trị văn hoá của văn học. Giá trị văn hoá rộng hơn các giá trị đạo đức và giá trị chính trị. Giá trị văn hoá đem đến sự hiểu biết cho mọi người, cho các dân tộc.
phim Lý Tiểu Long
Phê bình văn học hôm nay phải đạt tới những khái quát có ý nghĩa triết học. Trước đây Biêlinxki đã nói: “Làm phê bình có nghĩa là từ trong hiện tượng văn học cục bộ mà nêu ra những nguyên tắc lý tính phổ biến bộc lộ qua hiện tượng đó”. Các công trình phê bình văn học của D. Likhachốp, M.Bakhtin đã chứng thực ý tưởng của Biêlinxki. Những khám phá về bản chất đa thanh, đối thoại của văn học, bản chất cácnavan của sáng tác, quan niệm về con người, không gian, thời gian nghệ thuật, các ranh giới thể loại văn học… đã góp phần nâng cao ý thức của người đọc về văn học. Nhà phê bình văn học Pháp Roger Fayolle nhấn mạnh tới chức năng đổi mới cách đọc cho người đọc cũng rất có lý. Nói tóm lại phê bình văn học phải khơi mở nhiều con đường cho người đọc tiếp cận văn học. Nếu phê bình thực sự bắc cầu cho người đọc đi vào tác phẩm, nhất là tác phẩm mới còn lạ lẫm, thì phê bình đã góp phần thúc đẩy cho văn học phát triển. Không gì nguy hiểm hơn cho nền văn học là phê bình chỉ dùng một vài tiêu chuẩn giáo điều, cũ kĩ rồi chụp xuống tác phẩm, đánh giá văn học đương đại bằng các tiêu chuẩn của ngày hôm qua!
phim Lý Tiểu Long
Phê bình muốn đồng hành cùng sáng tác thì anh ta cũng phải học tập. Có hiểu biết thực sự về những gì đang diễn ra cho văn học dân tộc và văn học thế giới, phải được vũ trang về những công cụ mới trong phê bình, thì tiếng nói phê bình mới xứng đáng với “trình độ học thức của một nền văn học” như A. Puskin đã nêu ra từ đầu thế kỷ XIX!

________________

(1) Phê bình văn học hiện đại – Những vấn đề bức thiết. Nxb. Khoa học, M.1975.

(2) X.Chubrinin: Phê bình – ấy là các nhà phê bình. Nxb. Nhà văn Xô viết, M.1988.

(3) R.Fayolle: Phê bình. Hoài Vũ dịch. Nxb. Bách Hoa, Thiên Tân, 2002.
phim Lý Tiểu Long
(4) Quan niệm phân biệt phê bình văn học với nghiên cứu văn học của tác giả N.F. Jgiepxkaiia trong sách Nghiên cứu và phê bình văn học Pháp đương đại. Nxb. Khoa học, M.1985, tiếc thay lại là quan niệm ấu trĩ như thế. Tuy nhiên Jgiepxkaia quan niệm đúng về đối tượng của phê bình là tác phẩm văn học với tư cách là sự kiện văn học đương đại (Tlđd, tr.26).

phim Bụi Đời

phim Bụi Đời
phim Bụi Đời


phim Bụi Đời
Bộ phim "Bụi Đời - Today Tv (2013)" nói về mối tình ở hai hoàn cảnh xã hội khác nhau của Út May và Lâm nhưng họ có mối dây liên kết vô hình đó là ông nội của Lâm... Út May từ chịu đựng bị người khác bắt nạt đã kháng cự và trở thành bụi đời chính gốc. Rồi số phận của cô rẽ sang hướng khác khi cô vào làm ở xưởng sơn mài mỹ nghệ của ông bảy Tín và cô gặp cậu chủ tên Lâm. Lâm tuy có vẻ bề ngoài là một công tử giàu có nhưng bên trong cũng chứa nhiều bất hạnh khi sống giữa nơi không có tình thương yêu ngoài vật chất. phim hay!


Nghiên cứu văn học (bao gồm lí luận, phê bình, khảo cứu văn bản, tác giả, biên soạn lịch sử văn học)[1] với tư cách là sự ý thức về văn học có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống của văn học, giáo dục và sinh hoạt văn hoá nói chung của một dân tộc. Một nền nghiên cứu văn học phát triển sẽ tác động nhiều mặt đến nhà văn, người đọc, văn hoá, xã hội của một dân tộc và sự giao lưu quốc tế. Trình độ nghiên cứu văn học trực tiếp ảnh hưởng đến giáo dục văn học của một nước. Nghiên cứu văn học Việt Nam đang ở vào giai đoạn tiếp xúc văn hoá thế giới rộng rãi nhất của thời đại hội nhập, toàn cầu hoá tri thức, đang mở ra nhiều triển vọng, có nhiều trách nhiệm và thách thức chưa từng có.
phim Bụi Đời
Nghiên cứu văn học trước hết là một khoa học, khoa học nhân văn[2], khám phá đời sống tinh thần con người qua các biểu hiện kí hiệu[3], cho nên nó chỉ xuất hiện khi nào bản chất xã hội của văn học được phát hiện, phương pháp nghiên cứu đựơc ý thức và được xác lập. Đó chính là lí do vì sao Việt Nam tuy có lịch sử lâu đời, có hơn mười thế kỉ văn học, song nghiên cứu văn học lại xuất hiện rất muộn màng. Tuy đã có những tập sưu tập văn chương, thơ phú từ thế kỉ XV, và có lúc cũng có những lời bình, lời phê về văn chương, song các vấn đề tác giả, văn bản, dị bản, đặc điểm thể loại,… chưa bao giờ được quan tâm, coi là đối tượng nghiên cứu văn học[4]. Các thể loại tựa, bạt, thư, luận xuất hiện từ thế kỉ XV, nói một cách chặt chẽ, đều chưa phải là thể loại nghiên cứu văn học. Điều đó một phần gắn liền với đặc điểm “Tổ tiên ta ít làm lí luận”,[5] một phần khác do đặc điểm tư duy phương Đông, thiên về trực giác, “ngộ” ra “văn là gì”, còn như nó như thế nào, tại sao nó như thế thì ít chú ý. Phải đến đầu thế kỉ XX mới xuất hiện nghiên cứu văn học nằm chung trong trào lưu khảo cứu tư tưởng, văn hoá phong tục dân tộc nhằm khẳng định những gì là của mình trong khi văn hoá Pháp hầu như hoàn toàn lấn át đời sống văn hoá dân tộc. Động cơ thúc đẩy của trào lưu ấy bao gồm sự trỗi dậy của ý thức dân tộc, khát vọng xây dựng một nền quốc văn mới trong điều kiện thuộc địa và tác động mạnh mẽ của chính sách thuộc địa cũng như hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học nước ngoài.
phim Bụi Đời
Nghiên cứu văn học Việt Nam là sản phẩm của quá trình hiện đại hoá văn học, đã trải qua nhiều thời kì và giai đoạn khác nhau.
phim Bụi Đời
Từ đầu thế kỉ XX đến nay, nhìn trên nét lớn về khuynh hương, phương pháp có thể chia nghiên cứu văn học Việt Nam làm ba thời kì. Từ đầu thế kỉ XX đến 1945 có thể coi là thời kì hình thành nghiên cứu văn học hiện đại. Đặc điểm chung của thời kì này là phát triển đa nguyên các hình thái nghiên cứu văn học xuất hiện đối thoại, cạnh tranh, tranh biện nhau, thay thế nhau. Trong thời kỳ này lại có thể chia làm hai giai đoạn nhỏ: từ đầu đến 1932 là giai đoạn tập dượt, nhiều người đã xuất hiện trên báo chí, song phải đến giai đoạn 1932 đến 1945 mới là giai đoạn trưởng thành với sự xuất hiện tác giả và ý thức về phương pháp phê bình, nghiên cứu, những cuộc tranh luận sôi nổi về quan niệm văn học. Từ 1945 đến những năm 1975 là thời kì tại các vùng do Đảng Cộng sản nắm chính quyền phương pháp nghiên cứu văn học Mác xit đấu tranh với các quan điểm phi mácxít và chiếm địa vị độc tôn. Tại vùng chưa giải phóng vẫn tiếp tục phát triển theo tinh thần đa nguyên, đa dạng. Giai đoạn từ sau 1975 đến những năm 1986 là giai đoạn chuyển mình, thai nghén đổi mới. Từ cuối những năm 80 trở đi, với chính sách “cởi trói”, đổi mới tư duy, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và xã hội, nghiên cứu văn học dần dần trở lại đa dạng. Lực lượng nghiên cứu ngoài các nhà chuyên môn trong nước còn có các tác giả phê bình lí luận hải ngoại. Thời kì này, theo dự kiến của chúng tôi, lại có thể chia làm hai giai đoạn nhỏ. Giai đoạn những năm 80 đến hết thế kỉ, đổi mới nghiên cứu chủ yếu dựa trên nền tảng lí luận phi chính thống của Liên xô cũ. Từ đầu thế kỉ XXI ảnh hưởng Nga nhạt dần, ảnh hưởng phương Tây đang đậm lên trong thế hệ những nhà nghiên cứu trẻ biết tiếng Pháp, tiếng Anh, xuất hiện những dấu hiệu của một giai đoạn nghiên cứu văn học mới, mà hầu hết công trình tập hợp trong sách này đều chỉ nhằm thể hiện cho xu hướng mới đó. Sự xuất hiện và mức độ hội nhập càng ngày càng gia tăng của nghiên cứu văn học Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá không thể đảo ngược về mặt kinh tế cũng như văn hoá, tri thức là điều dễ hiểu.

Nhìn qua lược đồ nêu trên một vấn đề đặt ra là nghiên cứu văn học Việt Nam đã và đang ở đâu rồi sẽ đi về đâu?
phim Bụi Đời
1. Từ đối lập đi đến hội nhập

Nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại hình thành trong bối cảnh cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong khung cảnh xung đột ý thức hệ toàn cầu, cho nên đã phân hoá thành hai xu hướng chính: xu hướng hấp thu những thành tựu nghiên cứu văn học nước ngoài xây dựng nên nghiên cứu văn học dân tộc và xu hướng hấp thu chủ nghĩa Mác, xây dựng nền nghiên cứu văn học theo hướng chính trị, phục vụ sự nghiệp cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo. Ngay trong thời kí hình thành đầu tiên, cuộc hiện đại hoá nghiên cứu văn học đã hình thành trong thế đối lập. Cuộc đụng độ giữa Phạm Quỳnh với Ngô Đức Kế trong vụ án Truyện Kiều, cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh năm 1936 – 1939, cuộc tranh luận văn nghệ Việt Bắc, cuộc đấu tranh chống nhóm nhân văn giai phẩm, cuộc đấu tranh chông chủ nghĩa xét lại, rôì sau ngày thống nhát nước nhà cuộc đấu tranh chống văn hoá thực dân mới… đã tách nghiên cứu văn học làm hai hướng, hướng văn học học phát triển theo hướng chính trị cách mạng vô sản và hướng nghiên cứu văn học theo nhu cầu phát triển văn hoá nói chung được mệnh danh là tư sản.
phim Bụi Đời
Lí luận văn học mác xít Việt Nam trực tiếp trình bày các quan điểm về văn học nghệ thuật, tập trung vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chững và duy vật lịch sử nhằm khẳng định nguyên lí văn nghệ phục vụ chính trị, nghiên cứu văn học phục vụ cách mạng, đấu tranh chống lại các quan điểm thù địch. Có thể gọi nền lí luận đó bằng thuật ngữ “Lí luận phê bình xã hội chính trị”. Lí luận ấy đã chiếm vị trí chủ đạo trong không gian do đảng lãnh đạo và hình thành nền nghiên cứu văn học mác xít. Trong văn bản giải thích Đề cương văn hoá (1943) trước thềm cách mạng tháng Tám Trường Chinh khẳng định: “Phàm cái gì chống lại tinh thần dân tộc độc lập và thống nhất, phải thẳng cánh đập tan. Phàm cái gì trái khoa học, phản tiến bộ, phải kiên quyết bài trừ. Phàm cái gì phản đại chúng, xa đại chúng, phải nhất luật san phẳng”[6] Mục đích của cuộc đấu tranh một sống một chết đó là vừa độc quyền giành độc lập dân tộc, vừa làm cho chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa tả thực toàn thắng trong văn hoá Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo đó các tư tưởng phi mác xít đã lần lượt bị đập tan, bài trừ, san phẳng, và đã xây dựng nên một nền nghiên cứu văn học mới, bao gồm các bộ giáo trình lí luận văn học, các bộ lịch sử văn học, các công trình phê bình, nghiên cứu văn học theo quan điểm mácxít. Phương pháp phân tích giai cấp, quan điểm lịch sử và tính Đảng cộng sản là tư tưởng chỉ đạo trong nghiên cứu văn học. Tính đảng và tính khoa học không tách rời nhau. Tính khoa học được xác định là “Viết đúng thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin”[7]; “Lí luận chỉ cần đúng chứ không cần mới lạ. Thật là nực cười khi không cần thiết vẫn cứ đi tìm cái gì là mới lạ, độc đáo, khó hiểu, lấy đó làm lí luận cao siêu sâu sắc mặc dù nó dẫn ta đến những sai lầm đáng sợ”[8]. Như thế, chỉ một lí luận là đủ, và đã đúng thì đúng mãi, những tìm tòi khác đều dẫn đến sai lầm, mọi tìm tòi mới lạ trong nghiên cứu văn học đều không cần thiết. Quan điểm biến chủ nghĩa Mác thành thế giới quan quan phương của Đảng lãnh đạo như thế là biến tư tưởng của Mác vốn là một phương pháp tư duy sống động thành giáo điều, biến một tư tưởng thấm nhuần thực tiễn thành huyền thoại. Ăngghen từng viết: “Còn như nói đến cái ý nghĩa tối cao về nhận thức mà tư duy của một người có thể đạt tới, thì ai cũng biết, căn bản không thể có, căn cứ vào kinh nghiệm có được cho đến hôm nay, thì những chỗ cần hoàn thiện trong các tư tưởng đó còn nhiều hơn rất nhiều những chỗ đúng đắn, không cần hoàn thiện của chúng.”[9] Điều này đúng với mọi tư rưởng, kể cả ttư tưởng của Mác. Thực tế không có cái đúng mãi mãi. Nhiều hiện tượng văn học lớn của dân tộc như thơ Mới, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, các công trình nghiên cứu văn học trước 1945… đã được giới nghiên cứu văn học mác xít ở ta nhìn nhận không đúng, thiên về hạ thấp mà sau này, đến thời Đổi mới, sau khi lí luận được điều chỉnh, đã được đánh giá lại thoả đáng hơn. Với quan điểm lí luận văn học mác xít được hiểu theo quan điểm chính trị, các lí luận văn học phương Tây đều nhất loạt được coi là lí luận tư sản hoặc là xét lại. Giáo sư Phan Cự Đệ nhận định về các trường phái lí luận phương Tây: “Lí luận phê bình cũng là một hình thức đấu tranh tư tưởng trên mặt trận văn nghệ nói riêng, trên lĩnh vực các hình thái ý thức nói chung. Cho nên phương pháp phê bình văn học gắn liền rất chặt chẽ với những quan điểm chính trị, triết học và mĩ học của các nhà văn. Những phương pháp phê bình của nền nghệ thuật tư sản như thực chứng luận của Auguste Comte, phân tâm học của Freud, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc, hiện tượng luận…, chạy theo những quan điểm mĩ học tư sản như lí thuyết nghệ thuật vị nghệ thuật của chủ nghĩa lãng mạn, mĩ học của Kant, Hegel và Bergson, mĩ học của các nhà hiện đại chủ nghĩa và các trường phái suy đồi ở phương Tây.”[10] Với quan điểm như thế, nghiên cứu văn học mác xít ở Việt Nam đóng dấu “tư sản” lên hầu hết mọi sáng tạo văn hoá hiện đại của nhân loại, từ chối nghiên cứu, vận dụng mọi tư tưởng lí luận được gọi là phi mác xít. Còn nhớ nỗi sợ hãi của những ai vào những năm 60 có hứng thú với thuyết cấu trúc. Và đến năm 1971, mười năm sau khi lí thuyết mĩ học tiếp nhận đã phổ biến trên thế giới, nhưng ở ta khi có người nêu lên vai trò tích cực của người đọc liền bị Tạp chí văn học lúc đó tổ chức phê phán liên tục trong nhiều số. Như thế, nghiên cứu lí luận văn học theo hướng mác xít ở Việt Nam chỉ vận hành trong một cái khung lí luận chính trị rất hẹp, khó lòng khám phá bản chất nhiều mặt phong phú, độc đáo, đa dạng của các hiện tượng văn học dân tộc hay thế giới với tư cách là sáng tạo văn hoá. Đó là điều đã được thực tế lịch sử chứng minh.
phim Bụi Đời
Xu hướng tiếp thu lí luận văn học, phương pháp nghiên cứu văn học tiến bộ của phương Tây đã bắt đầu từ đầu thế kỉ XX với các bài giới thiệu và thực hành nghiên cứu theo “phương pháp của Thái tây” của Phạm Quỳnh trên Nam Phong. Bước sang những năm 30, 40 tiếp nhận ý thức “phê bình nhân vật” từ khái niệm cái Tôi ở Thiếu Sơn, phê bình tiểu sử học của Sainte-Beuve ở Trần Thanh Mại, tiếp thu tư tưởng nghiên cứu cá tính nhà văn mà hạt nhân là cái tiềm thức của Freud cùng tư tưởng chủng tộc, môi trường, thời đại của H. Taine ở Nguyễn Bách Khoa, tiếp nhận phê bình ấn tượng chủ nghĩa của A. France ở Hoài Thanh, phương pháp giảng văn của G. Lanson ở Vũ Ngọc Phan…Tất nhiên quy cho ai tiếp nhận ai không thể là chuyện dễ dãi, chúng tôi sẽ bàn thêm sau, song sự tiếp thu đó, dù cho có phần hạn chế nào đi nữa thì cũng đã làm thành một giai đoạn phê bình văn học phong phú, đa dạng trong lịch sử văn học Việt Nam. Trong thời gian 30 năm chiến tranh, miền Bắc Việt Nam, ngoài ý kiến của Mác, Ăng ghen, Mao Trạch Đông, đường lối văn nghệ của Đảng cộng sản, nghiên cứu văn học Việt Nam còn tiếp thu lí luận của các nhà dân chủ cách mạng Nga như Biêlinski, Dobroliubov, Chernyshevski, Plekhanov…, các nhà lí luận văn học Liên Xô đương đại như Timofeev, Vanslov, Fridlender, Khrapchenco…, tập trung vào các vấn đề về phản ánh hiện thực, tính chân thực, chống tô hồng, bôi đen, tính nhân dân, tính giai cấp, tính đảng cộng sản, chủ nghĩa hiện thực phê phán, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, nội dung và hình thức, thế giới quan và sáng tác, chất lãng mạn, nhân vật điển hình, các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ của văn học, truyền thống và cách tân…Với các tư tưởng ấy chúng ta đã có nhiều bộ lí luận văn học, nhiều bộ lịch sử văn học, nhiều công trình phê bình văn học dành cho các tác giả nổi bật như Hồ chí Minh, Tố Hữu, Nam Cao, Nguyễn Du và Truyện Kiều, một số chuyên luận nghiên cứu phong trào thơ mới, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại theo các phạm trù như tính chiến đấu, tính nhân dân, giá trị hiện thực, phương pháp sáng tác… Trong thời gian ấy ở đô thị miền Nam dưới chính quyền Mĩ nguỵ, bên cạnh khuynh hướng văn nghệ yêu nước, cách mạng, có bộ phận đã tiếp nhận đủ loại tư tưởng phương Tây từ chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện sinh Sartre, hiện tượng luận Heidegger, chủ nghĩa Freud, phân tâm học của Bachelard, Ch. Mauron, phê bình chủ đề của Richard, chủ nghĩa cấu trúc của L. Goldmann, R. Barthes…Lược khảo văn học của Nguyễn Văn Trung là một giáo trình giới thiệu các khuynh hướng phê bình văn học hiện đại, nhiều tác giả đã vận dụng các phương pháp mới để nghiên cứu văn học cổ điển và hiện đại Việt Nam…
phim Bụi Đời
Bước sang những năm 80, trong bối cảnh đất nước thống nhất, song song với quá trình đổi mới nền kinh tế, tư duy văn học cũng được đổi mới, đặc biệt là từ năm 1986. Tư tưởng văn nghệ cơ bản vẫn là lí luận mác xít, song đã có sự mở rộng, chúng ta đã tiếp thu lí luận văn học của những tác gia chính thống có đổi mới như Khrapchenco, Xushkov, Pospelov…và phi chính thống trong nền lí luận xô viết như M. Bakhtin, Ju. Lotman… Phong trào “perestroica” của Nga cũng góp phần làm thông thoáng tư tưởng văn nghệ ở Việt Nam. Bên cạnh nghiên cứu, phê bình văn học theo hướng chính trị – xã hội truyền thống đã có thêm hướng nghiên cứu phong cách học, thi pháp học, phân tâm học đối với văn học Việt Nam và văn học thế giới. Bước vào những năm 90, khi bắt đầu công cuộc mở cửa làm bạn với các nước trên thế giới, tham gia hội nhập kinh tế, thông tin, tri thức một khuynh hướng mới đang bắt đầu trong đời sống tư tưởng và văn nghệ. Rất nhiều sách văn học, đặc biệt là sách nghiên cứu khoa học xã hội và khoa học nhân văn được dịch ra tiếng Việt đã góp phần thúc đẩy sự giao lưu nhiều măt, toàn diện với văn hoá thế giới. Công trình khoa học của các tác giả tư sản nay được phiên dịch giới thiệu trang trọng, một số bản dịch lưu hành trước đây ở miền Nam dưới chế độ cũ được in lại. Một số nhà nghiên cứu Việt nam đã nghiên cứu, giới thiệu những vấn đề lí luận văn học hậu hiện đại. Các sự kiện đó đánh dấu một quá trình, trong đó sự đối lập gay gắt trước đây đã giảm đi, một qúa trình hội nhập bắt đầu, hứa hẹn những thay đổi mới trong nghiên cứu văn học.

2. Nghiên cứu văn học và vai trò của chủ thể
phim Bụi Đời
Nhìn lại quá trình hình thành lí luận, phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỉ, người ta không khỏi khâm phục những người tiên phong do họ có chủ kiến, có tư thế chủ động, mạnh dạn dấn bước trên con đường mới mẻ. Muốn có nghiên cứu văn học trước hết phải có người nghiên cứu văn học. Thế hệ những người đi tiên phong có hoài bão làm một cái gì mà nước nhà chưa có, muốn thi thố, để nước mình có thể sánh với các nước văn minh. Phạm Phú Thứ đem về nghề nhiếp ảnh, Nguyễn Văn Vĩnh đem về nghề in máy, nghề báo chí, dịch thuật, Phạm Quỳnh muốn “theo đòi”“phép phê bình khảo cứu của văn học Thái Tây để phát biểu cái đặc sắc, bày tỏ được cái giá trị” của Truyện Kiều, chứ không muốn phẩm bình theo lối truyền thống. Ông nêu ra bốn mục: cỗi rễ tác phẩm, tiểu sử tác giả, tâm lí nhân vật, văn chương, đều là những đề mục chưa từng có trong phẩm bình văn học dân tộc. Thiếu Sơn, tiếp sau ông Ưng Quả, nhận thấy “Lối phê bình trước kia quả là chưa có, mà chỉ thấy xuất hiện ở gần đây.” (Tựa Phê bình và cảo luận) Hai chữ “phê bình” ở đây hiểu theo nghĩa Tây, tức là nghiên cứu, bao gồm nghiên cứu thân thế, những tác phẩm, cội nguồn tác phẩm, tâm lí nhân vật, ngôn ngữ văn chương…, rồi ông viết Phê bình và Cảo luận, đề xuất ra lối “phê bình nhân vật”, bên cạnh lối “phê bình sách vở”. Mấy chữ “nhân vật” và “sách vở” chứng tỏ lúc này ông vẫn chưa có quan niệm về văn chương, tác giả văn học và tác phẩm văn học. Khái niệm nhân vật của ông bao gồm những người nổi tiếng, kể cả chính khách, nhà buôn, nhà sử học… Đọc đến Trần Thanh Mại, Trương Chính, Trương Tửu, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, …họ rất khác nhau, mỗi người đều có quan niệm, phương pháp làm việc riêng, thể hiện một tư cách độc lập trong sự nghiệp của mình.
phim Bụi Đời
Bước vào giai đoạn sau cách mạng tháng Tám, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trở thành những chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, văn học, chiến đấu cho lí tưởng chung, mỗi người làm việc theo sự phân công của cách mạng, có lập trường giai cấp chung, có phương pháp chung là chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng, nét đặc sắc riêng của mỗi người bị giảm đi. Nhà nghiên cứu nói chung không quan tâm lựa chọn phương pháp riêng cho mình, mà cốt tìm hiểu, vận dụng phương pháp chung cho đúng, không rơi vào vũng bùn tư sản, xét lại là được. Nhiều người mong muốn tìm trong kho tàng kinh điển một ít câu nói đặc sắc mà chưa ai trích dẫn rồi đem ra diễn giải, vận dụng để được gần hơn với thê giới quan chung. Họ có vẻ như ít có hoài bão riêng về quan điểm và phương pháp học thuật, họ chỉ khác nhau chủ yếu về đối tượng và nội dung nghiên cứu, tôi nghiên cứu thơ, anh nghiên cứu tiểu thuyết, tôi viết lí luận, anh viết phê bình, khác nhau chỉ về tư liệu (cho nên có hiện tượng ai có tư liệu quý là đem giấu đi, không cho người khác biết!), về cảm thụ, cá tính và cách trình bày. Để duy trì mọi người trong khuôn khổ phương pháp chung, nhiều nhà lí luận có trách nhiệm luôn luôn bàn về phương pháp luận mác xít, phê phán các phương pháp và phương pháp luận tư sản, duy tâm, đồi truỵ. Kết quả là nhiều bộ lí luận văn học, lịch sử văn học ở các trường đại học, thuộc các nhóm tác giả biên soạn gần như na ná nhau, chỉ khác nhau về chi tiết. Đề tài muôn thuở của lí luận văn học vẫn là tư tưởng của Lênin, thế giới quan và sáng tác, văn học phản ánh hiện thực, phương pháp sáng tác, chủ nghĩa hiện thực, chức năng giáo dục, tư tưởng, tính chiến đấu, tính dân tộc của văn học, (Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Hoàng Trinh, Phương Lựu, Thành Duy…) phê phán các lí thuyết tư sản, xét lại (Tố Hữu, Hoàng Xuân Nhị, Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Trinh, Hoàng Nhân…). Đề tài phê bình văn học, ngoài việc phê bình các tác phẩm văn học được coi là lệch lạc, có vấn đề về tư tưởng, đối tượng chủ yếu của phê bình văn học là thơ Tố Hữu, thơ, truyện và kí Hồ Chí Minh, những tác phẩm từ tuyến đầu Tổ quốc hay những tác phẩm ngợi ca cuộc sống mới, con người mới (Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hà Xuân Trường, Lê Đình Kỵ, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Phong Lê, Nhị Ca, Nguyễn Văn Hạnh, …). Đề tài lịch sử văn học thì phong phú hơn, nhiều hiện tượng văn học đã được đem soi xét theo quan điểm văn nghệ mác xít. Dù sao tư liệu, cá tính, sự cảm thụ và cách trình bày cũng trạo nên sự khác biệt trong các công trình nghiên cứu tiêu biểu đáng nhớ, hình thành một nền nghiên cứu văn học mác xít có nét riêng của nó (Lê Đình Kỵ, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Đinh Gia Khánh, Huỳnh Lý, Lê Trí Viễn, Nguyễn Đăng Mạnh..). Trong khi đó ở đô thị miền Nam trong giao lưu trực tiếp với nghiên cứu văn học phương Tây đã xuất hiện những tác giả khác biệt: Vũ Hạnh, Nguyễn Văn Trung, Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ, Đỗ Long Vân, Đàm Quang Thiện, Huỳnh Phan Anh…Mãi sang những năm 80 do vị thế văn học và quan niệm văn học đổi thay mới có sự bùng phát những cách tiếp cận mới, ý tưởng mới trong nghiên cứu văn học, xuật hiện một số tác giả có quan điểm riêng trong học thuật như Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu, Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thuý… Các nhà nghiên cứu giai đoạn trước cũng tự điều chỉnh cách đánh giá để hoàn chỉnh nhận định khoa học của mình đối với nhiều hiện tượng văn học dân tộc.
phim Bụi Đời
Bước sang những năm 90 và những năm đầu thế kỉ XXI với xu thế hội nhập, toàn cầu hoá về tri thức, một thời kì mới cho văn học và nghiên cứu văn học được mở ra, những vấn đề mới và thử thách mới. Nền nghiên cứu văn học mới đòi hỏi những người trí thức mới, với ý thức chủ thể mới. Họ phải là những nhà nghiên cứu độc lập trong từng nhóm nhỏ chứ không giản đơn là những ca sĩ trong dàn đồng ca hùng vĩ.

3. Sự du hành của lí luận phương Tây đến Việt Nam
phim Bụi Đời
Nhiều người vẫn nghĩ rằng nghiên cứu văn học chúng ta đi sau thì chủ yếu là bắt chước, sao chép, vận dụng tư tương, phương pháp của ai đó ở ngoài biên giới và lí tưởng của tiếp nhận là có hệ thống, đầy đủ, toàn diện. Khi nghiên cứu lịch sử nghiên cứu thì chỉ ra ai mượn của ai, đầy đủ hay khiếm khuyết… Thực ra việc chỉ ra ai mượn của ai cái gì là điều chẳng khó, bản thân các nhà nghiên cứu cũng tự nhận hoặc trích dẫn, cả trong những trường hợp không nhắc đến ai người ta vẫn có thể chỉ ra không mấy khó khăn những dấu ấn ảnh hưởng. Vấn đề là xét theo quan niệm giải cấu trúc cái gọi là “bê nguyên xi” chắc chắn là không thể có. Khái niệm “differance” (diên dị – biến khác) của Derrida[11] với tư cách là nguyên tắc kiến tạo nghĩa đã cho thấy mọi tiếp nhận tất yếu sẽ “biến khác” và không có cơ hội để bệ nguyên xi bất cứ thứ gì về mặt tinh thần. Khi Hoài Thanh nói mỗi nhà thơ mới đều mang trong đầu ba bốn nhà thơ Pháp, nhưng thơ của họ đều đã hoàn toàn Việt hoá đã chứng tỏ cơ chế “biến khác” trong sáng tạo các giá trị tinh thần. Chủ nghĩa phương Đông của Said là sản phẩm của giải cấu trúc, hiển nhiên cũng thừa nhận sự biến khác của Derrida, và bên trong “sự du hành của lí thuyết” hẳn cũng có cơ chế “diên dị”. Mặt khác, do ý thức chủ thể, các nhà nghiên cứu thường làm một sự tổng hợp, sáng tạo mới trong thực tế nghiên cứu. Dĩ nhiên, không phải mọi sự “tổng hợp mới” đều có hiệu quả như nhau, nhưng nó không giản đơn là vận dụng cái có sẵn. Chẳng hạn trong Nguyễn Du và Truyện Kiều, Trương Tửu đặt vấn đề nghiên cứu quan hệ tác phẩm với cá tính nhà văn, mà cá tính được hiểu chủ yếu là phần tiềm thức của con người, một khái niệm chỉ có trong tư tưởng của phân tâm học Freud, chưa hề có trong tư tưởng của các nhà thực chứng thế kỉ XIX như Sainte – Beuve, Hyppolite Taine chẳng hạn. Nhưng khi đi tìm cội nguồn của cá tính thì Trương Tửu lại viện đến thuyết ba yếu tố của Taine. Như vậy phương pháp nghiên cứu của Trương Tửu là sự kết hợp vừa phân tâm học Freud của thế kỉ XX, vừa ba nhân tố của Taine thế kỉ XIX, nhưng ba nhân tố đóng vai trò yếu tố giải thích bên ngoài, còn giải thích bên trong hình tượng thì lại là tiềm thức, thần kinh bệnh học Freud. Dó đó lược quy phê bình của Trương Tửu trong Nguyễn Du và Truyện Kiều vào phương pháp văn hoá lịch sử của H. Taine cũng thiếu xác đáng như quy phương pháp phê bình của Hoài Thanh vào chủ nghĩa ấn tượng. Đúng là Hoài Thanh đã sử dụng những thao tác trực giác, ấn tượng khi đi vào tác phẩm văn chương, nhưng nói ông chỉ ở trong địa hạt văn chương (Nguyễn Văn Trung, Phan Cự Đệ…), không biết đến xã hội thì không đúng. Chúng tôi đã nói dến vấn đề này trong một bài viết cách đây trên mười năm[12], phương pháp ấn tượng của ông gắn với quan niệm về ảnh hưởng của hoàn cảnh, môi trường, ảnh hưởng văn học nước ngoài, phương pháp văn học so sánh…Chẳng hạn, khi phê bình Xuân Diệu, sau khi đã ghi nhận ấn tượng về thơ của thi sĩ này, Hoài Thanh viết: “Nhưng thơ Xuân Diệu chẳng những diễn đạt được cái tinh thần cố hữu của nòi giống. Vả chăng tinh thần nòi giống có cần gì phải bất di dịch. Sao lại bắt ngày mai phải giống hệt hôm qua?” Tiếp sau đó ông lại viết: “Nhưng xét rộng ra, cái nao nức, cái xôn xao của Xuân Diệu cũng là cái nao nức, cái xôn xao của thanh niên Việt Nam bây giờ. Sự đụng chạm với phương Tây đã làm tan rã bao nhiêu bức thành kiên cố. Người thanh niên Việt Nam được dịp ngó trời cao đất rộng, nhưng cũng nhân đó mà cảm thấy cái thê lương của vũ trụ, cái bi đát của kiếp người… Họ tưởng có thể nhắm mắt mà làm liều, lấy cá nhân làm cứu cánh cho cá nhân, lấy sự sống làm mục đích cho sự sống. Song đó chỉ là một cách dối mình…. Đời sống của cá nhân cần phải vin vào một cái gì thiêng liêng hơn cá nhân và thiêng liêng hơn sự sống.”[13] Ở đây nhà phê bình chẳng những đã chỉ ra tính chất xã hội của thi phẩm, mà hơn thế ông còn phê phán cái ảo tưởng của thi nhân. Một ví dụ này cũng cho thấy nhận định Hoài Thanh là phê bình ấn tượng chủ nghĩa rõ ràng không xác đáng, bởi bỏ mất nội dung xã hội, lịch sử trong phương pháp của ông. Thực tế các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam trong nghiên cứu bao giờ cũng có thiên hướng tổng hợp, sáng tạo những gì là hợp lí của thời đại làm thành tinh tuý trong phương pháp tiếp cận của mình. Cần nhận rõ điều này để trong nghiên cứu văn học không nên chạy theo những tên gọi, nhãn hiệu để dán vào nhà nghiên cứu, đi tìm một cái gì thuần tuý, nguyên gốc, bới chẳng có gì nguyên gốc, không biến đổi, đứng ngoài không gian, thời gian cụ thể trong thế giới này cả.
phim Bụi Đời
4. Nghiên cứu văn học đã qua trong cái nhìn của tính hiện đại