Thursday, May 23, 2013

Phim Cạm Bẫy





Phim Cạm Bẫy
Phim Cạm Bẫy 

Phim Cạm Bẫy 

Trong khi đó có bao nhiêu điều ông vốn dự định từ lâu mà không tìm ra thời giờ để viết.

Nhà thơ Tế Hanh, khi nghe tôi nói tới sự nhẫn nhịn biết điều của Xuân Diệu, cũng nhớ lại vài chuyện mà ông còn nhớ, và nếu không phải Xuân Diệu nói ra, thì tự ông, không dám tin là thật. Chẳng hạn, có lần Tế Hanh hỏi:

- Diệu ơi! Sao anh làm những Tặng làng Công, với Bà cụ mù loà, lục cục thế?

- Tế Hanh phải có lúc nghĩ tới những người trả lương cho mình nữa chứ!
Phim Cạm Bẫy 
Câu chuyện trên, có lẽ là xảy ra đã lâu, hồi Tế Hanh mới từ khu Năm ra, gặp Xuân Diệu từ Việt Bắc trở về Hà Nội, cả hai cùng làm báo Văn nghệ. Từ đó, mấy chục năm cùng sống trong giới, Tế Hanh càng hay bắt gặp ở tác giả Thơ thơ cái nét nhẫn nhịn nói trên. Đến mức có lần, bấy giờ đang còn những năm chống Mỹ thấy Tế Hanh có làm bài thơ về Phạm Thái, Xuân Diệu khen:

- Tế Hanh bạo nhỉ!

Thì ra, vốn cũng rất thích Phạm Thái, nhưng Xuân Diệu sẵn sàng “để ở bên lòng” không nói gì về tác giả Sơ kính tân trang, khi trong giới nghiên cứu và sáng tác văn học đương thời lưu hành một dư luận cho rằng Phạm Thái chống Tây Sơn và thơ thì lãng mạn!
Phim Cạm Bẫy 
Ở trên chúng ta đã nhắc chuyện ông có thời gian bỏ giới sáng tác, đi làm nhà đoan.

Về sau, không bao giờ Xuân Diệu làm công việc từ bỏ dứt khoát như thế nhưng những cuộc từ bỏ nho nhỏ, thì ông làm khá thường xuyên. Ông phải né tránh, và phải làm cả những việc ông không muốn.

Năm ấy, nhà thơ trẻ C.K. mới xuất hiện, tuy là đang ở tuổi vị thành niên. Đi đâu cũng có người khen, nhưng lúc đầu, tôi nhớ là Xuân Diệu không khen. Với cách nói có phần nanh nọc của một người đàn bà nhà quê, ông bảo khen C.K. thì có khác gì ra đường mà kêu ầm lên rằng “các ông các bà ơi, con gái tôi mười ba tuổi mà đã có mang!”.

Có thể là Xuân Diệu đã nói đúng, đến nay không ai còn nhắc đến C.K. nữa. Nhưng vào khoảng thời gian đó, hình như mọi người đang cần khẳng định một tài năng trẻ, cần chứng tỏ chúng ta đang làm rất tốt việc bồi dưỡng các thế hệ kế cận. Mà sự khẳng định ấy phải ở miệng Xuân Diệu nói ra mới quý! Thế là có đơn đặt hàng và khi có người đặt hàng thì Xuân Diệu chấp nhận. ít lâu sau trên báo Văn nghệ, ngay trang một, thấy xuất hiện một bài khen thơ C. K. hết lời. Cái tài bình thơ vốn có tác giả Các nhà thơ cổ điển Việt Nam được Xuân Diệu vận dụng triệt để, cốt để mọi người cũng như chính ông tin rằng thơ C. K. rất hay. Xuân Diệu dám đánh mất mình trong chốc lát, để giữ lấy cái đại cục.



Cây hoàng lan cô đơn
Phim Cạm Bẫy 
So với hoàn cảnh nhà cửa ở Hà Nội, thì căn phòng riêng của Xuân Diệu ở đường Cột Cờ (nay là Điện Biên Phủ) phải nói là đã khá tươm tất. Căn phòng rộng đâu gần hai chục mét. Nhà thơ làm việc tại cái bàn kê sát cửa sổ. Gần đấy là bàn tiếp khách: một ấm pha trà nhỏ, vài cái chén loại cổ. Tôi nhớ mặc dù Xuân Diệu không hút thuốc, nhưng ông vẫn có một hộp thuốc lá, để thỉnh thoảng mời anh em hút chơi. Sự tiếp khách của Xuân Diệu chừng mực trân trọng lại luôn luôn có sự thân tình và câu chuyện không bao giờ rơi vào sáo rỗng. Nhưng được chiều vậy, mà mấy khi chúng tôi dám ngồi lâu, vì thật ra ngay từ lúc vào, chúng tôi đã bắt gặp Xuân Diệu đang làm dở việc gì đó, thành thử, sau những trao đổi cần thiết, khách khứa cũng tìm cách rút lui cho đúng lúc. Chỗ ở của Xuân Diệu không thể là cái nơi người ta đến lang chạ và dềnh dàng tán chuyện, như nhà một vài người khác. Nhiều khi, đi ngoài đường nhìn vào, chúng tôi vẫn bắt gặp Xuân Diệu với cái đầu lắc lắc đang miệt mài làm việc bên bàn. Vũ Quần Phương bình luận rất hay: Đầu lắc lắc, luôn luôn “đấm nhẹ vào trán kêu đau óc lắm, nhưng năm nào cũng có sách xuất bản”. Thế thì ai dám ngồi lâu được?

Nhưng nói đến chỗ ở, chỗ tiếp khách của Xuân Diệu tôi không chỉ nhớ tới căn phòng, mà còn một khung cảnh nữa, khá thú vị. Vào những ngày hè, đến chơi với nhà thơ, có lần tôi bắt gặp ông mặc quần áo cộc, khênh cái bàn trúc ra ngồi ngay lối đi. Ngồi đấy, tay phe phẩy cái quạt, mắt lim dim suy nghĩ, ông làm thơ, dịch thơ. Sự thư nhàn của một người vốn bận bịu, có cái nét duyên riêng của nó. Vào những ngày chớm thu, trời còn nóng, nhưng cây hoàng lan xế cổng đã toả bóng mát thật dễ chịu. Thơ Xuân Diệu từng nói tới cây hoàng lan ấy (bài thơ này tôi ghi theo bản chép tay trong sổ tác giả):
Phim Cạm Bẫy 
Hương chín hoàng lan thu tới đó

Lơ thơ trong chợ nhãn xong mùa

Năm nay em vắng không ăn nhãn

Anh một mình thôi, cũng chẳng mua.

Không hiểu làm sao, tôi cứ nghĩ vân vi mãi về cây hoàng lan cổng nhà Xuân Diệu. Quả thật, đó là một giống cây lớn cùng loại với những xà cừ, bàng, liễu, loại cây lưu niên mà người ta vẫn trồng để lấy bóng mát. Thân cao, xù xì, lá thưa và mỏng, nhiều khi hoàng lan lại có cái vẻ ngạo nghễ mà giống cây mọc cô độc thường có. Có điều, đó là thứ cây cho ta loại hoa mỏng mảnh, cánh tuy to và dày, nhưng bao giờ cũng rủ xuống yếu đuối, và hương thơm thì hơi hắc hắc. Một thứ hoa dành để cúng lễ, và theo tôi nhớ trước kia cũng là thứ hoa để những người con gái đang yêu dắt trong áo. Tự nhiên tâm trí thoáng qua những liên tưởng tới Xuân Diệu. Trong toàn bộ văn học, con người đang ngồi trước mặt tôi là một thân cây cổ thụ, mà vóc vạc, dáng hình cứ lừng lững, lừng lững tồn tại. Song trong đời sống hàng ngày nhất là khi nói chuyện riêng đó lại là con người của sự từ tốn, ý nhị: “Cành biếc run run chân ý nhi” “Lung linh ánh sáng bỗng rùng mình”. Những thoáng rung động tinh vi kiểu ấy đã đi vào cả trong cách sống hàng ngày của ông. Cộng với cuộc sống độc thân, kéo dài “mãn tính”, cuối cùng ở Xuân Diệu hình thành một cốt cách riêng, kết hợp cả sự chăm chỉ xốc vác, đôi khi như là hùng hục làm, làm bằng được, làm quần quật suốt ngày này tháng khác, với sự tinh tế, nhỏ nhẹ, cái sự chiều lòng mọi người! Vâng Xuân Diệu chính là một thứ cây hoàng lan cô đơn đổ bóng bên nhà ông đó.
Phim Cạm Bẫy 
Nếu như mọi người đàn ông đã “một nửa là đàn bà” thì cái phân số đàn bà trong người Xuân Diệu còn cao hơn một bậc nữa. Ai trong đời từng được tác giả Thơ thơ quý trọng, đều biết nét tâm lý này của Xuân Diệu, những khi ông đến chơi nhà. Con người kiêu hãnh Xuân Diệu lúc đó, như biến đi đằng nào. Ông hoàn toàn nhỏ nhẹ, khiêm nhường, rón rén, chỉ sợ làm phiền người khác, nét mặt cứ ngẩn ra trước những gì khác lạ, và muốn làm mọi cách để vui lòng người bạn của mình. Mà thường trong những truờng hợp đó là Xuân Diệu mang cho, chứ đâu phải đến làm phiền! Thuở ông còn sống một số người chỉ biết Xuân Diệu hay đòi bằng được cái nọ cái kia, đòi đăng thêm một bài thơ, đòi tổ chức thêm một buổi nói chuyện. Có biết đâu, nhu cầu mang cho ở Xuân Diệu cũng rất lớn. Một chi tiết nhỏ trong muôn vàn chi tiết liên quan đến những cuộc nói chuyện thơ của Xuân Diệu: sau những lần phục vụ thơ ở Đội cây xanh thuộc công ti quản lý công viên Hà Nội, Xuân Diệu được anh chị em công nhân coi như một thành viên của đội. Cứ đến gần tết, trong đội có một quyền lợi nho nhỏ ấy là một số cây cỗi, đã đánh về rải rác trong năm, nay mang chia đều mỗi người một ít, chở về nấu bánh chưng là hợp nhất. Xuân Diệu cũng được một phần củi như mọi người. Và bao giờ Xuân Diệu cũng đến lấy, buộc bó cẩn thận, đèo sau xe đạp, mang về… tặng gia đình Hoàng Trung Thông.

Đàn bà trong cách thương mến, chiều chuộng mọi người, và Xuân Diệu cũng rất đàn bà trong cách cáu giận, bực mình. Ngồi họp với Xuân Diệu nhiều người chúng tôi thường để ý tới hai giai đoạn: Ban đầu Xuân Diệu lơ đãng nghe, ngơ ngác cười với một người lâu mới gặp, nhiều khi cúi đầu xuống như còn mải nghĩ về công việc đang làm dở dang. Nhưng chỉ cần có chuyện gì chạm đến điều Xuân Diệu tâm đắc, là lập tức ông như chồm dậy nói sa sả, nói hết gan ruột mình, cả miệng, mắt, đầu tóc, như cùng tham gia vào cuộc phát biểu. Và trong cái lúc bộc lộ hết mình này, cũng như khi đi nói chuyện, Xuân Diệu rất hay làm thêm động tác, lấy cái ngoắt tay, cái chẩu mỏ, để diễn tả ý tứ cần nói. Đôi khi chúng tôi nói vụng sau lưng: “Y như các mẹ nhà quê xắn váy quai cồng lên mà cãi nhau”. Cái tật nói dài, nói kỹ, nói bằng được, mà nhiều khi chúng ta bắt gặp trong thơ, và nhất là trong tiểu luận phê bình của Xuân Diệu, thực ra cũng bắt đầu từ lối nói dứt da dứt thịt, mà chúng ta thấy trong Xuân Diệu hàng ngày đó.
Phim Cạm Bẫy 
Ấy cáu giận thế, tham lam thế, nhưng tựu trung lại trong quan hệ với mọi người Xuân Diệu vẫn là một người khiêm cung, biết người biết mình và trung hậu thật thà khiến ai cũng quý. Sự biết điều ở ông là trên nét lớn và có bao hàm những trừ bì. Tham lam mà lại là biết điều. Vì biết mình chỉ có ít, không chịu phí phạm cái gì! Tự hào đấy, hãnh diện đấy, nhất là trước đám đông, nhưng trở về với người thân trong không khí của hậu trường, lại dễ dàng cười xoà. Tôi nhớ một lần, nói chuyện với Xuân Diệu về tình thế chung của văn học Việt Nam: Chúng ta còn nghèo, ngay trước cách mạng, thực tế một đất nước thuộc địa không khỏi ảnh hưởng đến sáng tác của cả một lớp nghệ sĩ rất tài năng. Xuân Diệu thấy cả. Và vừa như biện hộ, vừa như khẳng định chỗ yếu kém của mình, Xuân Diệu khoát tay, mượn một cách nói hơi có vẻ tục, để kết luận:

- Thì dân tộc cũng chỉ rặn ra được một lũ chúng mình !

Tính thiết thực là một thói quen thường có ở Xuân Diệu và cũng là một điều bạn bè đồng nghiệp có dịp đến nhà chơi, tiếp xúc với tác giả Thơ thơ trong cái không khí hàng ngày, nhớ kỹ hơn cả. Lùi về tận kháng chiến chống Pháp, Thanh Tịnh nhắc lại chuyện Xuân Diệu lục ba lô lấy cho mấy lạng muối, hoặc trước lúc chia tay, tặng cái nắp bút Parker nhặt được trên đường. Vũ Quần Phương hay kể chuyện Xuân Diệu dặn ăn kẹo phải ngậm đừng nhai, nhai là phí. Nguyễn Đăng Mạnh bắt đầu bài hồi ký bằng câu chuyện Xuân Diệu tặng mình một cuộn giấy báo chưa in, bảo rọc ra mà làm bản thảo dần. Trần Đăng Khoa kể là một bận Xuân Diệu hẹn đến chơi, nhưng đến hơi sớm một chút. Thế là Xuân Diệu đưa cho mấy tờ báo bảo đọc, rồi ông tranh thủ… ngủ. Ngủ đâu mười phút, đúng giờ lại dậy, làm việc, tiếp khách.
Phim Cạm Bẫy 
Trong số những ấn tượng về con người Xuân Diệu lúc về già, tôi nhớ đến cái dáng đẫy đà của ông. Ông béo cái thứ béo riêng của người ít lao động chân tay. Những túi thịt đầy không căng lên song trông vẫn ngồn ngộn. Da như trơn láng hơn, và cả người toát ra vẻ nồng nồng mà người ta thường cảm thấy ở những phụ nữ cả hơi. Ra đường, ông ăn mặc đúng mốt, mùa hè thì thường áo sơ mi cộc tay bỏ ngoài quần, cả người thơm tho lịch sự. Nhưng trở về nhà, bên bộ bàn ghế trúc cũ càng, ọp ẹp, là lại đánh bạn với cái quần đùi cũ lõng thõng dải rút, cái sơ mi hình như đã lấm tấm rách rạn vài chỗ. Xuân Diệu đã vào với bao nhiêu cảnh giàu sang phú quý, mà ông vẫn giữ nếp nghèo như xưa. Và ông có ý thức về điều ấy lắm. Khoảng đầu 1980 có lần, tôi hỏi Xuân Diệu “Sao anh không vào ở Sài Gòn?” thì được đáp lại rất hồn nhiên: “Ôi, vào đấy sao nổi, chỉ nghe tiếng băm thịt của nhà hàng xóm, mình đã không sống yên ổn rồi… Nghèo như chúng mình, chớ nên vào”.

Có lẽ bởi luôn luôn nghĩ rằng mình nghèo, nên Xuân Diệu càng chăm chỉ lam làm và trước tiên, càng tự hạ mình, cho phép mình vơ véo nhặt nhạnh, nó là đầu mối của cái tính đàn bà nơi ông mà chúng tôi bắt gặp.

Này là những ngọt ngào của Xuân Diệu khi cần lấy lòng ai đó cái đầu nghiêng nghiêng, con mắt đắm đuối Xuân Diệu tự hạ mình khác chi Người kỹ nữ.

Này là những lúc Xuân Diệu đi nói chuyện, làm đủ mọi thứ bộ tịch để thiên hạ vui lòng. Một giáo viên dạy văn sau nhiều lần đi nghe Xuân Diệu đăng đàn diễn thuyết, tâm sự: Mình dạy học có khi còn thay đổi bài giảng từ lớp nọ sang lớp kia. Cụ ấy thì không, cứ bài nói chuyện ấy, cụ ấy kéo, đúng đến chỗ ấy thì dừng lại cho người ta vỗ tay. Cứ thế mà làm.

Xuân Diệu đã trở thành một người lao động đơn giản theo nghĩa đen của từ này. Tô Hoài nhận xét: “Mình đã nghe nói vài lần mình biết. Chỉ loanh quanh một ít bài bản có sẵn, sau đó là thơ tình Xuân Diệu” (khi tác giả Thơ thơ mất, Tô Hoài viết bài kể chung quanh bài thơ Phia Khình Tô Hoài đã được nghe Xuân Diệu nói từ kháng chiến, sau sang Lào lại được nghe nói đến bài thơ ấy. Trong lời kể, có sự quý trọng, lại có sự đùa bỡn).
Phim Cạm Bẫy 
Cùng đi với Xuân Diệu về một nơi nào đó, sau những buổi nói chuyện, tôi chỉ thấy Xuân Diệu có hai thứ nữa sung sướng là ăn và ngủ. Ô, không thể tưởng tượng được là con người ấy dễ ngủ lắm! Ngày ba buổi nói chuyện, với ông không phải là quá. ở những chỗ ông chưa nói chuyện bao giờ, mà chỉ bố trí ngày có hai lần là ông giận. Và khi không có việc gì làm cho hết ngày, ông lăn ra ngủ, cái gối kê khá cao, ngủ ngáy đều đều, những lần thoáng thấy, bao giờ chúng tôi cũng cố tránh cho xa, vừa sợ kinh động đến người, vừa ngại thấy ông không sinh động, đẹp đẽ, như lúc ông thức. Không ai nói ra nhưng hầu như tất cả những người đi trong chuyến ấy gặp nhau ở ý nghĩ: tác giả Thơ thơ già rồi. ở Hà Nội ai có gia đình người ấy ngày tháng trôi đi đều đều và Xuân Diệu luôn luôn có mặt trên báo chí, cho nên ai cũng cảm thấy Xuân Diệu còn sung sức lắm. Nhưng cùng đi công tác với nhau, chúng tôi thấy Xuân Diệu thật già. Và chúng tôi chợt nhận ra một điều: từ lâu, Xuân Diệu không gây cho ai bất ngờ nữa. Còn Xuân Diệu cũng yên vị với những gì đời đã cho mình. Xuân Diệu biết là mình không thể khác.

Một trong những nét thấy rõ ở con người trong thơ Xuân Diệu lúc trẻ là ở cảm giác cô đơn không thể hoà nhập vào cuộc đời. Theo một thói quen cũ kỹ, lâu nay bao giờ người ta cũng coi đó là một chỗ đáng phê phán, có biết đâu rằng nhiều khi cảm giác cô đơn chính là mặt trái của nỗi khao khát sống, là bằng chứng trưởng thành của nhân cách. Xem thơ tình Xuân Diệu thì biết. Nếu những năm 50, 60 người ta còn bắt gặp những bài hăm hở, tha thiết đau xót, thèm muốn, bơ vơ (kiểu như Phượng mười năm, Hỏi), từ đó tạo nên cả một chùm thơ mang vị đắng như chính ông gọi, thì những năm 70, 80, thơ Xuân Diệu chỉ còn nói đến sự hoà hợp vốn là một cái gì ông không có, hoặc có một chút song ông đã đánh mất. Xuân Diệu đã nghèo đi, như chúng ta khi về già thường nghèo đi, song do quen dần nên ta không thấy mà chỉ thích ứng một cách tự nhiên. Điều này bắt đầu ngay từ cuộc sống hàng ngày. Thật vậy, mặc dù trước sau Xuân Diệu vẫn sống đơn độc, không có gia đình, nhưng những năm cuối đời, con người ông như chai đi, ông cảm thấy bằng lòng với hoàn cảnh, ông tạo ra đủ lý lẽ để bảo vệ cho cách sống ông buộc phải sống. Để chống trả thời gian, vượt lên thời gian, mà cũng là cách tốt nhất để chống lại băng giá của sự cô đơn Xuân Diệu đã làm việc quần quật. Đến thăm Xuân Diệu, so sánh cuộc sống của ông với cuộc sống những người bình thường, nhiều người cảm thấy thương xót vô hạn. Nhưng hoá ra chúng ta nhầm! Xuân Diệu không cần, không biết đến ai thương xót, ngược lại, ông cho rằng mình đã chọn được con đường tối ưu để sống và viết.

Thế có bao giờ Xuân Diệu “hố” không, lộ vở là một người yếu đuối vụng về không? Có bao giờ sự cô đơn đã giáng cho ông một cú nặng nề, ngay trước mắt mọi người? Có bao giờ giá tỉnh táo ra, ông phải hối tiếc cho cái tình thế cô đơn của mình?

Có, cũng có một lần như vậy, và câu chuyện xảy ra một cách bột phát, tới mức, như một trò chơi của tạo hoá, một số người chúng tôi có tham gia vào, về sau có hối hận cũng không kịp!
Phim Cạm Bẫy 
Năm đó, đã là 1985, cái năm về sau sẽ được xem là năm cuối cùng trong cuộc đời Xuân Diệu, nhưng hình như cả ông, cả chúng tôi, đều không ai tính tới chuyện đó. Xảy ra việc làm tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1985, loại sách giống như một thứ “chiếu giữa làng” nên đã biến thành chỗ xếp hạng, cũng là chỗ mặc cả rất quyết liệt: Ai sẽ được vào, câu hỏi đó đặt ra với đông đảo mọi người chưa giải quyết xong, thì ai sẽ được lấy sáu bài, ai bốn bài, ai hai bài lại được đặt ra và câu hỏi này mới thật khó phân xử vì toàn động chạm tới các “đầu lĩnh” cỡ lớn trong giới! Theo chỗ tôi nhớ, thì mặc dù đã là người chủ trì làm nhiều tuyển tập văn thơ Việt Nam, từ hồi ở Việt Bắc (Tập văn Cách mạng và kháng chiến) cho tới sau hoà bình 1956 (Thơ Việt Nam 1945-56) và vinh quang nhất là Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960, song đến tập này (1945-85), Xuân Diệu không đứng ra làm nữa, mà người được giao chủ trì là nhà thơ Tế Hanh. Đứng về mặt số lượng bài đưa vào trong tập thì Xuân Diệu đã thuộc loại nhất, tức là được chọn sáu bài. Tuy nhiên, lúc xem cả tập thì Xuân Diệu vẫn không bằng lòng. Câu hỏi của ông nằm ở sự so sánh: tại sao Xuân Diệu sáu bài, mà loại như người này được những bốn bài, loại người kia được ba bài?!

Theo Xuân Diệu, hình như những người soạn tuyển tập đã quên mất rằng: chỉ sau Tố Hữu thôi, chứ ông đứng ở một thế cao vòi vọi, không một nhà thơ lớp sau nào dám so sánh.

Nói tới người nọ người kia, song lần ấy mũi nhọn công kích của Xuân Diệu tập trung dồn về Xuân Quỳnh, người phụ nữ được in bốn bài.

Từ hồi bắt đầu chống Mỹ, trong thơ Việt Nam, vấn đề thế hệ bắt đầu được đặt ra rõ rệt. Có lẽ là do một sự bén nhạy nào đó, nên Chế Lan Viên rất hiểu chuyện này. Đi đâu ông cũng đặt vấn đề là phải bồi dưỡng cho lực lượng trẻ, rồi họ sẽ thay thế chúng ta. Ngược lại, Xuân Diệu khá dè dặt. Mặc dù chính Xuân Diệu đã thanh minh rằng bởi yêu nên mới cho roi cho vọt, song ai cũng nghĩ ông cố chấp quá.

Thật ra giữa Xuân Diệu và Xuân Quỳnh không có gì xung đột.

Thậm chí, ở một phương diện nào đó mà xét, có thể bảo Xuân Quỳnh là người tiếp tục giọng thơ Xuân Diệu. Cũng tinh tế như thế, nhất là cũng ham sống, cũng nồng nhiệt như thế.

Nhưng những người giống nhau lại hay kỵ nhau. Trong nghề làm thơ, Xuân Quỳnh tìm tòi học nghề ở Chế Lan Viên chứ không ở Xuân Diệu. Ngược lại, Xuân Diệu thấy loại như Phạm Tiến Duật là lạ, chứ Xuân Quỳnh không lạ. Sự không bằng lòng nhau ngấm ngầm đã có từ lâu, đến lúc này mới có dịp bùng nổ.

Cậy tuổi già, Xuân Diệu đi khắp nơi rêu rao, cho là Xuân Quỳnh không đáng như thế, chẳng qua đây là một nhà thơ phụ nữ xinh đẹp, nên chài được mọi người (chữ chài là của Xuân Diệu) khiến cho tuyển thơ chẳng còn thể thống gì nữa.

Xuân Quỳnh cũng chẳng phải người vừa. Thấy Xuân Diệu công khai nói mình ngay cả trong các buổi họp mà bản thân mình không dự, Xuân Quỳnh cho là bị xúc phạm, và nghĩ chuyện trả thù bằng cách viết thư thẳng cho Xuân Diệu.
Phim Cạm Bẫy 
Lịch sử đã biết tới nhiều ca “điên” của phụ nữ, câu chuyện tôi kể ở đây, chẳng qua là con sóng vỗ trong cái cốc nhỏ, nhưng nó không phải là không ghê gớm. Trong thư gửi Xuân Diệu, Xuân Quỳnh dùng tới những lời lẽ đáo để nhất, cốt có thể làm cho Xuân Diệu đau đến chết điếng đi, mà không sao cự lại nổi. Xuân Quỳnh nhắc đến quá khứ của Xuân Diệu. Xuân Quỳnh đặt câu hỏi về những thay đổi trong mấy chục năm cuối đời của Xuân Diệu và tự trả lời: Chẳng qua Xuân Diệu chỉ muốn xây dựng uy tín riêng cho mình. Chứ thực ra Xuân Diệu không tài cán gì, thơ Xuân Diệu đã hỏng hẳn rồi, mất hết sự sinh động và tự nhiên rồi.

Đi đến cùng trên con đường triệt hạ nhà thơ lớp trước đã nói xấu mình, chê bai làm nhục mình, Xuân Quỳnh nói tới tình trạng đơn độc của Xuân Diệu và cho rằng chỉ những người thất đức mới bị trời đày như vậy.

Bức thư như một mũi tên tẩm thuốc độc, chắc chắn làm cho Xuân Diệu giãy giụa trong đau đớn. Nhưng còn một việc nữa làm cho Xuân Diệu chết đi sống lại – tôi đoán thế – do một ác ý, mà nhiều bạn bè của Xuân Quỳnh, trong đó có người viết bài này, xúi bẩy Xuân Quỳnh làm: Đó là không chỉ gửi riêng lá thư cho Xuân Diệu, vì làm thế, có thể tạo cơ hội cho Xuân Diệu tránh đòn tức là giấu biệt thư đi không cho ai biết. Mà, muốn để Xuân Diệu thảm bại, Xuân Diệu gục ngã ngay trước mặt mọi người, Xuân Quỳnh sao lá thư này làm vài ba bản, gửi đi vài ba nơi cần thiết.

Không cần phải nói, cũng có thể đoán Xuân Diệu đã đau đớn như thế nào!

Câu chuyện xảy ra hè 1985, thì đến cuối năm đó, Xuân Diệu qua đời. Trong khi mọi người cuống quýt lo lắng cho đám tang, thì Xuân Quỳnh cảm thấy như mình có lỗi, và không biết làm gì để cứu chuộc. Khi có ai hỏi, Xuân Quỳnh chỉ phân bua là mình cũng rất biết ơn Xuân Diệu, mình không có ý hại ông. Mấy kẻ xúc xiểm chúng tôi, lúc này cũng cảm thấy hối hận vì vừa tham gia vào một trò chơi độc ác. Tuy nhiên những khi thật tỉnh táo nhìn lại câu chuyện Xuân Quỳnh – Xuân Diệu nói trên, chúng tôi hiểu ra một điều: nhà thơ của chúng tôi có lỗi trước tiên, mà cái lỗi đó, một phần bắt nguồn không phải ở tuổi già, mà là sự đơn độc của ông. Chúng tôi hàng ngày dù đôi khi cũng không giấu được sự tham lam và phải nhận là nhiều khi tham lam một cách vô lý, ngớ ngẩn, song cuộc sống gia đình luôn giúp cho chúng tôi tỉnh táo trở lại, nó mách bảo chúng tôi về một cuộc sống như nó vốn thế, vậy phải biết nhìn ra chung quanh, biết dừng lại đúng lúc cũng tức là biết rằng sống phải thông cảm, phải cận nhân tình, đừng có bao giờ quá đáng.

Đời riêng Xuân Diệu buồn hơn nhiều. Xuân Diệu không có được một gia đình bình thường. Cho nên trong quan hệ với mọi người Xuân Diệu đã phạm những sai lầm không thể tha thứ được, kể cả sai lầm với phụ nữ là những người mà trong thâm tâm ông yêu quý.

Trước sau, đó vẫn là cây hoàng lan cô đơn đang đổ bóng.

Đối diện với vĩnh cửu
Phim Cạm Bẫy 
Những năm cuối đời Xuân Diệu rất nổi tiếng với việc phê bình giới thiệu thơ, nhất là giới thiệu các tác giả cổ điển. Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến và Tú Xương, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu và á Nam Trần Tuấn Khải… hầu như với bất cứ nhà thơ liệt hạng nào, ông cũng đều yêu mến và tìm được cách tiếp cận. Không một ai đối với ông là bí hiểm, là khó giải thích, hoặc hơn nữa, là không thể giải thích nổi. Trong những bài phê bình và tiểu luận mà cách viết đôi khi rơi vào dông dài và thông tục, nhất là trong những buổi nói chuyện lặp đi lặp lại – ở cái nghề mà có người đã gọi đùa là nghề thầy cúng ấy, thì tránh sao cho khỏi lặp lại ? – ông làm được một việc lớn lao là phổ cập hoá thơ, làm cho thơ trở nên dễ hiểu và các nhà thơ lớn trở nên như là của mọi nhà. Tuy nhiên, cũng chính trong những lúc ấy, Xuân Diệu phô ra những nhược điểm lớn của mình – sự nói lấy được, làm cho cái gì cũng trở nên dễ hiểu, do đó đánh mất một chút thiêng liêng của văn học. Do đi với ai, làm cầu nối cho bất cứ ai cũng được, nên Xuân Diệu không thuộc hẳn về ai, không phát hiện được ai đến cùng. Trong khi rất kỹ lưỡng, rất thành thục với những điều ai cũng có thể nhận ra một cách mơ hồ, thì ở Xuân Diệu hơi ít những chỗ mà người thường không thấy và chỉ ông mới thấy. Những phát hiện của ông không mấy khi đạt đến mức bất ngờ và làm người đọc bàng hoàng ngơ ngẩn. Như người ta vẫn thường nói, đọc người khác là đọc chính mình. Hiểu biết tức là sánh ngang. Những tư tưởng sâu sắc chỉ được phát hiện khi người đọc chúng cũng hoàn toàn có điều kiện để nghĩ ra chúng. ở chỗ này, sự dừng lại của Xuân Diệu kể cũng là điều dễ hiểu. Với những thiên tài độc đáo của dân tộc, như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, dù Xuân Diệu đã nói rất nhiều, song muốn lý giải được cái thần của các vị ấy, ông còn cần được nhiều người tiếp tục.

Không phải là Xuân Diệu không biết vị trí của mình ở đâu. Đọc những bài ông giảng giải về các bậc thầy nghề nghiệp mà Xuân Diệu đã viết, người ta luôn luôn bắt gặp một ngụ ý:

- Tôi không sao nói hết được cái vi diệu mà cũng là cái cao cả của nghệ thuật! Các vị ấy là những tay thợ bậc 7, bậc 8 kia đấy! Vâng, đó là những người ở vào tột bậc nghề nghiệp, trong khi một người như tôi, chỉ thuộc loại bậc 4, bậc 5. Vậy thì các anh hãy nghe tôi nói đây, hỡi những tài năng lẫm chẫm bậc 1, bậc 2!

Dẫu sao, so với các nhà văn nhà thơ đương thời Xuân Diệu là người đã đến với các tác giả cổ điển thành tâm nhất, nhiệt tình nhất.

Mà đây là một việc làm hoàn toàn có ý thức.

Rất hiểu tài năng phê bình ở mình – tài năng đồng cảm phân tích đánh giá cái hay cái đẹp – ông hướng nó vào một chỗ có thể tồn tại lâu bền:

- Có che tàn, tôi cũng che tàn cho mấy ông to, chứ không làm dáng cho mấy anh trẻ ti toe.

Đối tượng so sánh của Xuân Diệu trong trường hợp này là Chế Lan Viên.

Trên cương vị trưởng Tiểu ban thơ, tác giả Điêu tàn những năm ấy thường vẫn phải đứng ra giới thiệu anh em trẻ. Và có làm là có lầm lỡ. Một đôi khi Chế Lan Viên đã đứng ra phân tích sáng tác của một hai cây bút mà chỉ một hai năm sau đã không ai nhớ! Xuân Diệu không làm thế. Dù mang tiếng là cay nghiệt với lớp trẻ, ông cũng thây kệ. Cái đích mà ông khao khát chiếm lĩnh là những giá trị còn mãi trong đời. Việc tìm hiểu giới thiệu các tác giả cổ điển, với tất cả sự khó khăn có thể có của nó, chừng nào đó, vẫn bảo đảm cho Xuân Diệu có điều kiện đến với cái đích đã đề ra. Việc ông sốt sắng lao vào nó hết mình là kết quả của cả tình yêu lẫn một sự tính toán khá chính xác.

Đến đây, chúng ta lại có dịp đối diện với một khao khát thường trực mà cũng là một động cơ chi phối toàn bộ con người Xuân Diệu, nó như nhiên liệu, tạo nên năng lượng cho mọi hoạt động của cái cỗ máy tinh vi trong con người tác giả Thơ thơ, đó là khao khát vượt lên trên thời gian, trở thành vĩnh cửu.
Phim Cạm Bẫy 
Là con người thiết tha với sự sống, chỉ sợ bữa tiệc đời vui vẻ kia mình không có mặt, Xuân Diệu có thích sống mãi trong đời, cũng là chuyện bình thường.

Huống chi, gần như suốt cuộc đời đơn độc, ở ông vắng thiếu hẳn một ít niềm vui trần thế như trò chuyện với vợ, chơi nghịch với con. Sự hướng về cái vĩnh cửu quả thật là cái phao lớn có thể mang lại lẽ sống cho Xuân Diệu, và chắc chắn ông đã tìm thấy ở đó một nguồn nghị lực to lớn.

Tuy nhiên, vấn đề sống chết là cả một câu chuyện lớn và trong cái ham muốn phổ biến là trở thành bất tử, con người ta cũng tự chứng tỏ nhân cách của mình, trình độ hiểu cuộc sống của mình. Nếu như đã không biết sống cái ngày hôm nay, thì làm sao người ta có thể biết sống trong vĩnh viễn?!

ở trên, chúng ta nói, do ham sống Xuân Diệu rất sợ chết và nỗi sợ ấy của Xuân Diệu đôi khi bị đẩy đi quá đà, đến chỗ quá quắt. Nên mỗi lần nghe Xuân Diệu lắc đầu le lưỡi, nghĩ đến cái chết, học theo Trần Thanh Mại, tôi lại không khỏi nhớ tới những bà già nhà quê, lúc chớm già họ cũng bo bo bỏm bỏm, tưởng như mình chết nay chết mai đến nơi rồi và luôn chân luôn tay làm thêm, để dành dụm thêm mấy đồng, nhỡ lúc chết cần tới. Rồi tôi lại nhớ đến sự bình tĩnh đối diện cái chết của mấy thi hào những người cùng quê hương Hà Tĩnh với Xuân Diệu. Nguyễn Du khi ốm đau, không chịu uống thuốc, chờ người nhà đến bảo thấy lạnh chưa, lạnh rồi hả, thế là nhắm mắt và không dặn gì thêm. Hoặc như Nguyễn Công Trứ, lúc biết mình chết bảo người thân đốt luôn cái nhà mình đang ở rồi chôn mình dưới đống tro.

Những mẩu chuyện như thế, hẳn là Xuân Diệu biết hết song vẫn cứ cái cách riêng của mình mà nghĩ, cách riêng của mình mà làm. Thật đúng như ai đó đã nói: “Cuộc lựa chọn của mỗi người với chính mình cho chính mình, tạo nên một cái người ta gọi là số phận”.
Phim Cạm Bẫy 
Đầu năm 1984, Tuyển tập Xuân Diệu, tập I (thơ) ra đời trong sự chờ đợi. Ai cũng mong tác giả sẽ gạn đục khơi trong tạo ra cho mình một khuôn mặt khả ái. Nhưng không! Người tuyển quá tham, lấy vào tuyển quá nhiều bài thơ dở. Khi tôi hỏi Vũ Quần Phương, tại sao lại thế, thì được Vũ Quần Phương cho biết cố nhiên là Xuân Diệu có tham gia vào công việc. Và khi có người bàn rằng nên làm cho tinh, thì Xuân Diệu bác đi: “Các cậu buồn cười thật. Chưa phải lúc làm tuyển làm tiếc gì cả. Giống như khi cháy nhà lúc này làm sao biết được cái gì hay với cái dở. Thấy bài nào bạn đọc chưa biết hãy nhặt vào đấy, sau này lịch sử định liệu”.

Ở đây, có cả sự biết điều chân thành lẫn sự khôn ngoan hám lợi thô thiển.

Phim Thiên Long Bát Bộ



Phim Thiên Long Bát Bộ
Phim Thiên Long Bát Bộ 




Phim Thiên Long Bát Bộ 
Năm sớm năm muộn xê xích ít chút nhưng nói chung hàng năm cứ đến khoảng cuối tháng mười một, đầu tháng chạp dương lịch, khi những chiếc lá bàng chuyển dần từ màu xanh sang màu đồng điếu, thời tiết bắt đầu ngả hẳn sang mùa đông, trời đất thấm lạnh đôi khi có thể giá rét thấu xương – thứ rét ngọt như người ta vẫn nói – thì cũng là lúc dân làm báo Hà Nội chúng tôi bắt tay vào một công việc thuộc loại vất vả trong năm là chuẩn bị những số báo tết.
Phim Thiên Long Bát Bộ 
Đời làm báo những năm chống Mỹ, dù không tất bật và lúc nào cũng bị ám ảnh bởi một cuộc cạnh tranh sôi động như thời kinh tế thị trường hiện nay, song so với nhiều nghề khác trong guồng máy làm các ấn phẩm có liên quan đến chữ nghĩa, thì cũng đã là bận rộn hơn hẳn. Lo làm dâu thiên hạ mà! Tháng nào tuần nào cũng phải tự trình diện trước dư luận và cấp trên tất cả phong độ của một kẻ đứng đắn và thành thạo trong làm nghề, kể cũng đã mệt lắm chứ. Nữa đây lại là báo tết! Ở tạp chí Văn nghệ Quân đội nơi tôi công tác những năm ấy, có lệ mỗi lần Tết đến, mọi phóng viên trong toà soạn phải góp một bài để số báo có chất lượng. Thơ thẩn còn không ngại, chứ đến truyện ngắn và các mục râu ria như giai thoại, thơ vui, câu đố, cùng nhiều thể tài gọi là tạp nhạp khác, thì quả thật viết đã khó, mà chạy ra bài lấp đầy các số báo cũng không dễ. Hình như hồi ấy, chúng tôi thường bận tâm vì những suy nghĩ nghiêm trang, nên tay nghề xoàng xĩnh và không biết làm hàng như về sau này! Bởi vậy vừa dọn dẹp bài vở cho số tết, vừa nhăn nhó và cứ nghĩ đến việc phải vẽ vời ra cho được dăm ba bài chọc cười mọi người, đã thấy lúng túng, bụng bảo dạ mình thì làm cho ai cười được, vì có ai làm cho mình cười được đâu! Những lúc ấy, nhà văn Nguyễn Minh Châu thường nhìn cánh trực biên tập (tức là đang lo dựng các số báo) một cách thương hại, và tủm tỉm:

- Trông kia kìa, chắc cụ Thanh Tịnh đã viết được vài bài rồi, giờ lại đang viết tiếp đấy. Tết năm ngoái, đọc sơ sơ các báo, mình đếm chắc chưa đầy đủ, mà đã có đến chục bài ký tên Thanh Tịnh… Ở nhà này, về khoản làm báo, cánh cầm bút lớp sau cứ gọi là xách dép cho cụ Tịnh cũng không đáng!
Phim Thiên Long Bát Bộ 
Cố nhiên là Nguyễn Minh Châu không nói oan cho Thanh Tịnh chút nào. Đóng góp của ông cho các số báo tết làm cho chúng tôi ngạc nhiên, vì như bắt gặp một Thanh Tịnh khác so với con người chúng tôi vẫn gặp. Có cảm thưởng như sau một năm dông dài, ông chợt nhớ ra phải làm việc nào đó để bù lại tháng ngày đã mất. Và mỗi lần thấy ông vừa thở phì phì, vừa bước những bước nặng nề đi lại trong phòng để ngẫm nghĩ, rồi thỉnh thoảng lại quay vào bàn ghi ghi chép chép, rồi hào hứng cười thầm như tự thưởng cho những ý nghĩ hóm hỉnh của mình thì chúng tôi chỉ còn có cách bảo nhau rằng – hẳn ngày xưa, một ông đồ già lọ mọ lục lại đống bồ cũ, lấy ra mấy thỏi mực, mấy tờ giấy hồng điều, thử lại vài cây bút mốc meo bấy lâu xếp xó trước khi ra phố bò toài trên chiếu viết thuê các loại câu đối tết, chắc cũng có cái vẻ mải miết tương tự.

Từ những ngày làm báo Tết ấy, tôi thường vân vi nghĩ rộng ra cả cuộc đời Thanh Tịnh để hiểu về một cách tồn tại độc đáo trong văn học.

Cuộc sống nhân loại là một sự phân công tự nhiên, song bao giờ cũng có. Và ngay trong phạm vi hẹp là từng nghề thôi, thì cũng đã có sự phân công đôi khi rất ngẫu nhiên ấy. Có người đóng góp cho cuộc đời này những chủ lực như gạo thịt nuôi sống người ta. Lại có những người chỉ như trái ớt quả chanh, thêm thắt tô điểm bên mâm cơm, không có không chết ai nhưng sự thực là thiếu đi, cũng dễ làm cho đời sống mất hết ý vị.

Nói thế này không rõ vong linh Thanh Tịnh ở dưới suối vàng có giận không, chứ quả thật, sự tồn tại của Thanh Tịnh thời tiền chiến theo tôi hiểu là thuộc cái dạng một sự thêm thắt không thể thiếu ấy.
Phim Thiên Long Bát Bộ 
Đã có lúc ông làm nghề đạc điền. Đã có lúc ông dạy học. Nhưng hình như hồi tiền chiến cái nghề ông làm lâu nhất, lại là nghề hướng dẫn du lịch, một thứ công việc lang thang đây đó, góp chuyện với mọi người, làm cho mọi người vui bằng những câu chuyện nhỏ của mình. Và cái thú của nghề này chính là ở biên độ dao động rất rộng của nó. Tán hão cho vui cũng được. Mà dày công nghiên cứu để mang lại kiến thức cho mọi người thì tâm sức bỏ ra mấy cũng chưa đủ.

Đến như đóng góp của Thanh Tịnh trong văn học – một tập truyện ngắn một ít bài thơ, tất cả đều có cái giọng bùi ngùi, và càng bùi ngùi thêm vì loanh quanh toàn kể về những con người hiền lành song bất hạnh – sự đóng góp ấy cũng chỉ là một sự thêm thắt nếu người ta tính đến số lượng ít ỏi của nó. Có điều, nhờ sự thành thật, và cả cái vẻ dịu dàng nhỏ nhẻ, không giống một ai mà rồi những trang văn chương ấy sẽ tồn tại trong tâm trí nhiều thế hệ. Sau khi đã đọc bao nhiêu ý tưởng quyết liệt nhất của Nhất Linh và Vũ Trọng Phụng, sau khi đã biết đến cái đậm đà duyên dáng của tiểu thuyết Khái Hưng, cũng như sau khi nghe tiếng nói thâm trầm và điềm đạm của Thạch Lam, người ta vẫn có những lý do riêng, để thỉnh thoảng tìm đến với văn Thanh Tịnh.

Đời xếp anh tôi với Thạch Lam

Ngồi chung một chiếu hội văn đàn
Chao ôi! Chiếu đã hai lần lạnh
Còn lại mình tôi vớí thế gian
Phim Thiên Long Bát Bộ 
Hồ Dzếnh đã viết như thế khi Thanh Tịnh qua đời. Đọc mấy câu thơ người ta cảm nghe được một cái gì giống như lời an ủi về tình thế “cùng một lứa bên trời lận đận” của các ông, những ngòi bút không thuộc dòng chủ lưu, nhưng lại làm cho không ai quên nổi.

Trong một hồi ký về quá trình đi theo kháng chiến, Thanh Tịnh kể: thực ra, hồi ấy (tức là cuối 1946) ông chỉ tính ra dự Đại hội văn hoá toàn quốc. Chẳng qua ngày họp kíp quá, mà tiếng súng kháng chiến ở Hà Nội diễn ra nhanh quá: vốn tính đận đà ông không quay về kịp, nên mới có một sự nhập cuộc như chúng ta đã thấy, tức là mặc dù quê ở Huế, song Thanh Tịnh lại theo đoàn người khổng lồ của Hà Nội lên Việt Bắc, rồi có mặt trong các hoạt động kháng chiến tám năm liên tục.

Nhưng sự nhập cuộc này – một sự nhập cuộc đàng hoàng, bởi chính thức mà nói, ông là một chiến sĩ quân đội – vẫn có cái vẻ riêng rất Thanh Tịnh của nó. Thời gian đầu hoạt động văn nghệ trong các lực lượng vũ trang còn đang lẻ tẻ tự phát và lẫn vào các hoạt động khác. Ví dụ, nhân có một đoàn tuyên truyền chính sách, hay một đoàn kiểm tra đi các địa phương các đơn vị, ở trên mới ghép thêm vào một vài chiến sĩ văn nghệ, để gây không khí. Nhưng ai ngại không biết, chứ Thanh Tịnh không ngại. Ông thích ứng ngay được với lối hoạt động nhỏ lẻ ấy. Tới đâu ông cũng nhanh chóng thâm nhập để biến thành người trong cuộc, rồi xem có gì đáng biểu dương thì làm thơ biểu dương, hoặc có gì đáng phê phán thì viết bài phê phán. Thứ thơ dễ hiểu với mọi người ấy lại được mang “sân khấu hoá” tức không bắt người ta phải đọc thầm, mà là chuyển thành cảnh diễn, nên thông thường là được quần chúng tán thưởng. Bắt đầu ra đời một thể tài gắn với cái tên Thanh Tịnh hồi kháng chiến chống Pháp: thể độc tấu. Và cứ thế, cứ với độc tấu, Thanh Tịnh như một người du ca, có mặt ở nhiều địa điểm của căn cứ địa Việt Bắc. Qua năm 1951, trong khuôn khổ của việc sắp xếp lại tổ chức nói chung, Thanh Tịnh nghe một cán bộ chính trị khuyên “Nên về lại quê hương”, thế là ông đi bộ trở vào vùng trong. Nhưng đến Nghệ An, biết vùng tự do Bình Trị Thiên chật hẹp, không có đất hoạt động, ông liền ở lại với Chi hội văn nghệ Khu Bốn. Bên cạnh Hải Triều, Hoàng Trung Thông, Bùi Hiển, Chế Lan Viên… ông có làm thơ viết báo, nhưng chủ yếu là phụ trách văn công. Và đây một đợt công tác độc đáo: ấy là khi hoà bình mới lập lại 1954, ông được giao phụ trách một đoàn xẩm, gồm 23 anh chị em, phần lớn là mắt kém, đi về hướng Bùi Chu Phát Diệm, lấy lời ca tiếng hát dân gian để động viên đồng bào đừng nghe theo những lời dụ dỗ di cư của kẻ địch mà hãy ở lại với quê hương.
Phim Thiên Long Bát Bộ 
Không biết ai đã có sáng kiến đặt Thanh Tịnh vào việc ấy?

Song quả thực, đấy là một trong những lần tài năng của Thanh Tịnh được sử dụng một cách đắc địa.

Thanh Tịnh là thế, là cuốn theo chiều gió, là ngọn cỏ gió đùa, là nương theo sự xô đẩy của hoàn cảnh mà tìm lấy tính chủ động, ở đâu thì cũng giữ lấy vai nghệ sĩ của mình, và hình như càng gặp những điều kiện sống khó khăn, không ổn định ông càng trở nên sinh động tự nhiên và nổi bật lên với khả năng thích ứng. Ngược lại sẽ hiện ra sẽ sống khó khăn thậm chí ông yếu đuối, lạc lõng lúng túng trong những hoàn cảnh ổn định, mọi thứ sắp xếp đâu vào đấy.

Sở dĩ tôi nói vậy, vì nghĩ đến hơn ba chục năm cuối đời của Thanh Tịnh bắt đầu kể từ 1954 khi ông nhận công tác ở tạp chíVăn nghệ Quân đội, rồi từ đó, về hưu.

Bề ngoài mà xét, thì sau hơn chục năm kháng chiến, làm người lính từ địa phương đến chủ lực, khi ở Việt Bắc, khi vào Khu Bốn, nay ông mới có một đơn vị công tác chuyên sâu, một nơi ở ổn định. Hơn thế nữa, từ nay, ông được làm cái nghề mà ông yêu thích, và đã tự nguyện theo đuổi, là viết văn viết báo, hỏi còn gì lý tưởng hơn nữa?

Song sự thực mọi chuyện không suôn sẻ như thế.

Những người quen biết, khi viết về tuổi già Thanh Tịnh, thường tả căn phòng của ông trong ngôi nhà số 4, ở đó rất nhiều đồ vật lịch sử “cái đĩa thời Lê, viên gạch thời Lý”, ngoài ra là ngổn ngang những vật kỷ niệm “một mảnh máy bay B.52, viên đạn ở chiến trường Quảng Trị, một con vịt nhựa sứt mẻ nhặt được sau một trận bom…” Và có người còn bảo là trong hoàn cảnh bấy giờ, Thanh Tịnh đã khéo tổ chức một cuộc sống riêng rất hợp lý. Có điều đấy là một cách an ủi cho người đau khổ đỡ tủi. Nên biết là ngay từ sau 1954, Văn nghệ Quân đội là một cơ quan rất được ưu đãi, anh em cán bộ chiến sĩ tuy đang tại ngũ, nhưng không phải lúc nào cũng bắt buộc mặc quân phục, và giờ giấc cũng không chặt chẽ như các đơn vị hành chính khác. Chỉ riêng một việc cơ quan đặt ở ngoài thành lại không có trạm gác đi về thoải mái, đã là một ân sủng quá sức chờ đợi! Là những người lính, nhưng hầu hết cán bộ trong cơ quan có gia đình ở Hà Nội, và sau một ít giờ sinh hoạt chung, ai về nhà nấy, thậm chí viết lách cũng có thể ngồi nhà, chỗ ngồi viết được cơ quan bố trí có để mốc ra đấy, cũng chẳng ai có ý kiến. Chính trong không khí đầm ấm đó mà sự cô độc của Thanh Tịnh càng nổi lên rõ rệt: Hãy thử tuởng tượng, vào những buổi tối, cả ngôi nhà hai tầng thâm nghiêm sang trọng đó vắng lặng chỉ có Thanh Tịnh, với một hai đồng chí chiến sĩ khác làm công tác phục vụ ở lại. Sau những bữa cơm chiều tẻ nhạt, có đi đâu một lát thì cuối cùng ông cũng phải trở về với dãy phố chỉ có hàng sấu lá reo, với cái cầu thang mênh mông mà bóng ông không bao giờ lấp kín. Trong khi đó, không cần tưởng tượng phong phú gì lắm, cũng có thể hình dung ra cảnh các đồng nghiệp của mình đang vợ con ríu rít như thế nào – tất cả những chuyện này, đối với Thanh Tịnh lặp đi lặp lại hàng ngày, và một tâm hồn nhạy cảm như ông làm sao không cảm thấy xót xa cho được? Chẳng ai có lỗi trong nỗi bất hạnh này của Thanh Tịnh cả – chẳng qua đất nước chia cắt, ông lập gia đình sớm, mà giờ vợ con lại ở tận trong kia, trong khi bọn chúng tôi trẻ hơn, bấy giờ mới bén mùi hạnh phúc riêng tư, nên tự nhiên là có cuộc sống khác hẳn ông như vậy. Tuy nhiên sáng sáng, nỗi hào hứng của bọn tôi khi được bắt tay vào một ngày mới, đến với cơ quan với bao náo nức, quả thực là có xẹp đi ít nhiều, khi chợt thấy người đồng nghiệp đồng đội già của mình lầm lũi xách một xô nước, từ bể chứa dưới nhà lên gác hai. Chính chúng tôi cũng muốn lẩn tránh ông, chứ không phải riêng ông muốn tránh chúng tôi. Lấy đâu ra lời lẽ, để ngày nào cũng an ủi nhau, và an ủi làm sao nổi – chúng tôi tự nhủ. Chỉ hoạ hoằn lắm, có đợt cả loạt anh em cơ quan cùng đi công tác, những lần ấy, mọi người như đều bình đẳng với nhau trong sự xa nhà của mình, và những buổi tối, ở nhà khách tỉnh ủy Hà Giang, hay cơ quan Hội văn nghệ Tuyên Quang gì đó, chúng tôi cùng quây quần nghe chuyện Thanh Tịnh – chỉ lúc bấy giờ, cái con người lớn tuổi nhất cơ quan mới có sự hào hứng, sự thích thảng mà ở Hà Nội, ông không bao giờ có.
Phim Thiên Long Bát Bộ 
Về lý thuyết mà xét, thì sự cô đơn có thể là điều kiện làm việc lý tưởng cho những ai có niềm say mê lớn. Nhưng khốn nỗi, quả thật đấy là chuyện lý thuyết, còn trong thực tế những người cầm bút ở ta hiện nay, một sự cân bằng trong tình cảm, lại là một bảo đảm tự nhiên cho sáng tác và nghĩ tới một người xa gia đình như Thanh Tịnh ai cũng hiểu ngay là “nhiều khi rỗi rãi mà không biết làm gì”. Chẳng những thế, lại phải biết thêm là sinh hoạt văn học từ sau 1954, nhất là từ 1958-60 trở đi, rồi trong chiến tranh, có một vẻ tấp nập riêng chỉ nó mới có. Các nhà văn Nguyễn Khải, Hữu Mai, Hồ Phương, Hải Hồ, Nguyễn Trọng Oánh, lúc ấy mới trên 30, đi khoẻ, viết khoẻ, tháng trước vừa theo đơn vị này đi tiễu phỉ ở Hà Giang, về viết một hai tuần nộp bài cho cơ quan xong, tháng sau lại có thể theo một đơn vị khác làm kinh tế, và trở về, lại có bài ngay để nộp, cả toà soạn như một đàn ong cần cù, hàng ngày hàng giờ toả đi khắp nơi để viết, viết ngay về cái thực tế sôi động của miền Bắc lúc ấy. Còn Thanh Tịnh của chúng tôi thì sao? Ngoảnh đi ngoảnh lại tuổi 50 đã đến với ông từ lúc nào. Ông không thể xông xáo như mọi người, mà có lao đi khắp nơi, trở về, ông cũng không thể viết nhanh viết khoẻ như họ. Hơn thế nữa ở đây, không khỏi còn những phân cách trong thói quen, trong quan niệm. Một bên là lớp nhà văn mới trưởng thành từ kháng chiến, lòng đầy tự tin, và cái háo hức chủ yếu, là háo hức làm nên một nền văn học trước đây chưa từng có; còn bên kia là Thanh Tịnh dẫu sao cũng là còn hơi hướng tiền chiến, nghĩa là thuộc về một quá khứ người ta đang muốn chôn vùi. Và thứ văn chương như Quê mẹ, dẫu sao cũng là thứ văn hiu hắt buồn tẻ của một thời đã xa lắm rồi, một người đã viết nên thứ văn như thế, làm sao có thể bắt ngay vào cái nhịp sống mới. Tuy không ai nói ra, nhưng hồi ấy, hầu như tất cả nghĩ thế. Mỗi lần bàn về Thanh Tịnh, thường mọi người thầm bảo nhau: Thôi thì cứ để “cụ” tuỳ nghi viết gì thì viết, còn phần công việc chủ yếu, sẽ phải là do lớp trẻ gánh vác.
Phim Thiên Long Bát Bộ 
Nhưng khi đã nghĩ như thế, tức là mọi người không còn coi Thanh Tịnh như một chiến sĩ bình đẳng với mình. Tức ông đã sớm trở thành một thứ cựu chiến binh ngay trong thời gian tại ngũ. Có cái rỗi rãi của người được chiều, có cái tuỳ nghi của người không bị ràng buộc. Nhưng chính vì thế, lại dễ trở nên lạc lõng. Tiếng thở dài hàng ngày của ông – ông tập thở theo lối dưỡng sinh – vẫn cất lên đều đều khi bước chân nặng nề đưa ông từ gác xuống nhà, từ nhà lên gác, song đáp lại tiếng ngân vang của nó, chỉ có một sự im lặng buồn tẻ. Kể ra, sự xa cách trong lối sống đã được giữ gìn kín đáo để khỏi trở thành lộ liễu. Là những cây bút đầy tài năng và hiểu biết, những Hữu Mai, Hồ Phương, Nguyễn Khải, Từ Bích Hoàng, Vũ Cao… đối với Thanh Tịnh vẫn có cái tình riêng. “Ông viết văn từ khi ta còn học tiểu học”, “Và bây giờ trong lúc ta vợ con đầm ấm, thì ông cô độc cô quả, xa nhà xa vợ con” – hầu như bất cứ ai cũng có lần tự nhủ vậy, để đối với Thanh Tịnh thật gượng nhẹ. Riêng Nguyễn Minh Châu lại có cái gì hơn thế. Hình như với cái cốt cách riêng của mình, Nguyễn Minh Châu cứ có sự bùi ngùi thương cảm riêng với các bậc đàn anh tiền chiến và thường xuyên dậy lên trong ông một tình cảm giống như sự biết ơn chân thành. Một lần nào đó, viết xong một truyện ngắn, bên cạnh nhan đề Những lá thư vui, Nguyễn Minh Châu trang trọng chua thêm mấy dòng “Kính tặng bác Thanh Tịnh” (như ngày xưa, Thanh Tịnh đã viết Con so về nhà mẹ để “Kính tặng hương hồn anh Thạch Lam”). Lại một lần khác, sau nhiều dịp trò chuyện với Thanh Tịnh, Nguyễn Minh Châu đóng vai nhà báo, viết hẳn một bài phỏng vấn giúp cho Thanh Tịnh giãi bày đủ điều với mọi người.

Nhưng cuộc đời không phải chỉ có những cái đó.

Cuộc đời trước tiên là một nhịp sống bình thường. Hàng ngày cơ quan chúng tôi túm tụm, người đi thực tế về, người mới đọc được quyển sách hay, người có cái tin sốt dẻo, cứ gặp nhau là dính với nhau, tiếng cười vang lên trong các gian phòng đóng kín, khiến người qua lại phải giật mình.

Trong những hội vui đó, không có Thanh Tịnh.

Tôi nghĩ rằng một người nhạy cảm như tác giả Quê mẹ rất biết tình thế của mình. Ông không chống chọi nổi với thời gian, song ông hiểu. Bằng cái từng trải của một chiến sĩ quân đội lâu năm, không phải ông không thấy mọi người có lý. Thành thử, ông cũng không buồn vất vả xoay xoả viết lấy được – một việc có lẽ ông cho là vô ích – mà cùng với những bế tắc trong hoàn cảnh riêng, ông sống như sống cho xong, buông thả, vui chơi qua ngày, đến đâu thì đến.
Phim Thiên Long Bát Bộ 
Những ấn tượng trên đến với tôi ngay từ những ngày mới đặt chân về công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân đội, tức khoảng 1968.Ở vào cái tuổi chưa đầy sáu mươi mà Thanh Tịnh những năm đó trông đã già lắm, già hơn tuổi rất nhiều. Hồi ấy, một tờ báo ra hàng tháng như chúng tôi chưa có ô tô riêng, bởi vậy, trừ những trường hợp đi các tỉnh xa, xin được xe Tổng cục, còn đi đâu loanh quanh Hà Nội, thì các thủ trưởng như Vũ Cao, Từ Bích Hoàng, hoặc các nhân vật trụ cột trong cơ quan cỡ như Hữu Mai, Nguyễn Khải, Hồ Phương cũng cứ xe đạp cá nhân mà đạp. Thanh Tịnh – người cao tuổi nhất cơ quan – cũng không ra khỏi thông lệ đó. Với một xe đạp cũ, ông tự mình có mặt ở khắp nơi, buổi họp này, dịp vui kia, và mặc dù đi bên cạnh mọi người, song cái dáng cao lớn trên cái xe loại vành 680 lại cứ làm cho ông tách hẳn ra. Nhưng muốn biết Thanh Tịnh đơn độc thế nào, phải nhìn những lúc ông đi bộ. Trên đường Phan Đình Phùng, dưới những hàng sấu, cũng già cả mệt mỏi, ông bước đi như không thể dừng lại nên phải bước, khuôn mặt đăm chiêu, dáng điệu đờ đẫn. Không trù tính định liệu, không ham muốn, ông nhìn thẳng về phía trước mà hoá ra chẳng nhìn gì cả. Đến cả bước chân của ông cũng không ai nghe tiếng nữa. Chỉ có tiếng thở dài của ông là có thật.

Trong các hồi ký, nhiều người đã nói về khả năng hài hước của Thanh Tịnh. Tất cả đều nói đúng, và chỉ quên một điều: đấy là cái hài hước của một người đã quá buồn! Con người vốn được nuông chiều, mà nay phải sống xa gia đình. Con người vốn ham chơi, mà nay phải sống trong không khí khổ hạnh. Trước khi chọc ghẹo thiên hạ, ông cần làm cho mình vui cái đã. Ông cười, cũng y như ông làm báo tết ở trên tôi nói, tất cả là để tạo nên một chút vang động giữa cái vắng lặng mà ông đã triền miên phải chịu. Nhìn ông vọc vạch những bài báo tết – mấy đoạn ca dao nôm na dễ hiểu, mấy mẩu đố vui, cũng như nhìn ông phát biểu giữa đám đông -, đôi khi tôi nhớ tới một hình ảnh mà những ai ở Hà Nội từ 1960 về trước đều biết. Đó là những ông già ngồi nặn những Tôn Ngộ Không, Quan Công, Trương Phi, bằng các loại bột xanh đỏ cắm trên một chiếc tăm tre, bán cho bọn trẻ nhỏ.
Phim Thiên Long Bát Bộ 
Những ông già ấy làm vui cho mọi người, cốt để khuây khỏa nỗi buồn trước sự xô đẩy của thời gian, và Thanh Tịnh của chúng tôi cũng thế. Tôi nhớ những ngày mùa rét, Thanh Tịnh hay bận ra ngoài một cái áo dạ màu cổ vịt, một màu rất chua, và chói hẳn lên giữa đám người nâu sồng hoặc toàn quần áo màu xám chung quanh. Đấy cũng là một cách để tỏ rõ cái khác biệt với chung quanh chăng? Cũng có thể Thanh Tịnh không cố ý, nhưng cái cách của ông cứ xui người chung quanh nghĩ thế. Vả chăng, cái con người thật của chính mình, thì mỗi người làm sao giấu được! Một cảm tưởng chung chúng tôi vẫn hay trao đổi với nhau: Ngoài mùi caoSao vàng hắc hắc – cái mùi phổ biến của những người già – riêng ở Thanh Tịnh tuổi sáu mươi hồi ấy lại còn thường hay bốc lên mùi nước hoa. Chắc chắn đó là thứ nước hoa thật rẻ, anh em nhà văn đi nước ngoài (chủ yếu hồi ấy là đi Liên Xô) gửi tặng. Thứ xa xỉ phẩm này, cũng như màu áo cổ vịt, khiến cho Thanh Tịnh nổi bật lên giữa những người khác. Trước mặt Thanh Tịnh nhiều người khen lấy lòng: “Anh Tịnh vẫn galant quá”, nhưng sau lưng, tôi biết người ta vẫn thầm thì với nhau: cụ phải làm thế vì già rồi, lại dân nghiện cũ, lâu không tắm, không đổ nước hoa lên quần áo thì còn dám đi đâu nữa!

Phần lớn các thiên truyện Thanh Tịnh viết trong Quê mẹ là những truyện buồn. Cô Duyên trong Bên con đường sắt chịu sự đàm tiếu của mọi người mà đâu có hạnh phúc. Cô Sương trong Tình thư không nuôi nổi mối tình thuần hậu qua những bức thư. Cô Hoa trong Con so về nhà mẹ thường xuyên sống trong cái tâm trạng chán nản rồi ao ước hão. Ở nơi này thì bảo rằng ở nơi kia khá hơn. Cho đến cô Thảo trong Quê mẹ cũng phải nhắm mắt nhắm mũi mà sống, luôn luôn ra vẻ rằng mọi người trong gia đình mình quý mến nhau lắm. Nhưng có lẽ thiên truyện gần với con người Thanh Tịnh về sau, mà cũng là đậm chất Huế của quê hương ông là truyệnCon ông Hoàng. Trước cảnh gia đình túng đói, ông Hậu, con ông Hoàng vẫn phải cố giữ lấy chút tiếng hão. Tương tự như ông Hậu con ông Hoàng, Thanh Tịnh của chúng tôi cũng không bao giờ có thể sống hết cái con người buồn rầu đau đớn của mình. Ông phải giữ tiếng cho mình và cho mọi nguời, vì cái tiếng của ông đã quá lớn. Chung quanh và chính ông đã ép ông thành một thứ phượng hoàng nhồi rơm nhồi trấu rồi treo trên tường, ông phải giữ lấy cái vai đã có.
Phim Thiên Long Bát Bộ 
Lại nhớ cái phòng bảo tàng những thứ cổ vật mà Thanh Tịnh xây dựng cho mình, trên cái phòng số 14 gác 2 nhà số 4 Lý Nam Đế những năm ấy. Nghèo thế, Thanh Tịnh của chúng tôi lấy đâu ra tiền để mua cổ vật? Mà cũng buồn thế, cô độc thế, một người ít nghị lực như Thanh Tịnh lấy đâu sức lực để mang lại cho bộ sưu tầm của mình một vẻ hoàn thiện dù là chỉ trên phương diện công phu thuần túy? Chẳng qua buồn tình quá, ông nhặt nhạnh một ít đồ cũ, xếp cho ra bộ, trong lúc không ai biết chơi thì cách chơi của ông đã là độc đáo, thế thôi. Song giá kể chỉ dừng lại ở chỗ ấy, thì Thanh Tịnh lại đi hơi quá: Từ lúc nào không biết, một cách tự nhiên, ông hay kể lể về cái bộ sưu tầm của mình. Toàn đám tinh ma, cố nhiên là chúng tôi có biết cái sự tô vẽ của Thanh Tịnh. Nhưng sự lịch sự tối thiểu không cho phép ai nói chuyện đó ra trước mặt ông làm gì. Rút cuộc là một cuộc chung sống hoà bình, Thanh Tịnh cứ nhặt nhạnh và mang ra khoe, nghĩ chẳng ai tin thì cũng buồn quá, nên tự nhủ rằng biết đâu sự bày biện rất thành thực của mình vẫn có tác dụng. Còn chúng tôi thì lúc nghe ông nói, phải giữ bộ mặt nghiêm trang cho khỏi bật cười, và lâu dần, việc đó cũng chẳng khó khăn gì với chúng tôi, vì ra ngoài, chúng tôi lại giễu ông ngay lập tức.

Trò chơi hơi buồn!

Nhưng nó là trò chơi duy nhất một ông già tạo ra được cho mình, và cũng là trò chơi độc đáo, dù không được đẩy đến cùng. Nó không làm hại làm phiền ai cả. Nó có thể được chấp nhận, ngay cả lúc người ta quá bận rộn.
Phim Thiên Long Bát Bộ 
Không rõ bây giờ có ai đang làm việc cho những tập hồi ký viết về những năm chống Mỹ. Nhưng dăm bảy năm trở lại đây, có dịp sống với cái tốc độ chóng mặt và những chương trình quảng cáo gây ấn tượng đậm của kinh tế thị trường, lớp người cả một thời trai trẻ sống trong chiến tranh và bom đạn như bọn tôi càng hay nhớ về những năm ấy. Hà Nội trong chống Mỹ là một cái gì lạ lắm, không phải là một thủ đô hoà bình – tất nhiên rồi, nhưng một thủ đô của chiến tranh cũng không hẳn. Tuy mấy năm 1966-67, thỉnh thoảng cũng có bom Mỹ bắn phá, nhưng với cái tính gan lì của người Hà Nội thì không thấm thía gì hết. Rồi từ cuối 1968, mọi chuyện đâu đóng đấy, chúng tôi nhởn nhơ sống, trẻ con vẫn đi học, người lớn vẫn “tất cả cho sản xuất”, mà vẫn vui vầy sống đủ mọi hệ luỵ của kiếp người. Ngoài kia là mặt trận, mọi người đều có con em mình ở ngoài ấy, và có thể mai kia đây, đến lượt mình đi, có sao! Nhưng hôm nay, hãy cứ vui vẻ với cái hạnh phúc trần thế mà mình đang có. Tôi đạp xe với bạn dong nhan các phố. Anh nhâm nhi vại bia bên mấy củ lạc. Anh kia nữa thành kính ngồi nghe một bài hát dân ca theo chương trình ca nhạc theo yêu cầu thính giả sáng chủ nhật của Đài tiếng nói Việt Nam. Vào những ngày tết, bên cạnh bánh chưng xanh và những hộp mứt ọp ẹp cung cấp theo ô phiếu, thì lại vẫn còn những cành hoa đào Nhật Tân bán trên Hàng Lược, nó là một thứ xa xỉ được chiến tranh cho phép, bởi nó là dấu hiệu về một đời sống bình thường, mà mọi người thấy cần tỏ ra cho kẻ thù biết. Có lẽ đời sống văn nghệ của chúng tôi mà được phát triển, thì lý do cũng tương tự thế chăng, chỉ biết trông vào những số báo tết, cũng có chút tươi tỉnh lên thật. Trên trang thơ, Xuân Diệu cho đăng những bài thơ tình tha thiết và đôi khi hơi buồn nữa, mà có thể là ông làm đã từ lâu, nhưng chỉ vào các dịp Tết mới tìm thấy lý do công bố. Tế Hanh đứng tên sau các bài thơ viết v

Phim Thất Kiếm



Phim Thất Kiếm
Phim Thất Kiếm
Phim Thất Kiếm

Về già Nguyễn Khải có gầy đi đôi chút chứ trong trí nhớ của tôi những năm chiến tranh, đó là một người vóc vạc cao lớn, chuyên cưỡi chiếc xe đạp Diamant loại vành 680 mà chỉ những ai trên thước bảy mới chuộng. Cách ăn mặc của ông không thể nói là sang trọng, chắc chắn đấy không phải là một người ưa làm đỏm, nhưng ngay trong bộ quân phục thời chiến giản dị ông vẫn biết gợi cho người chung quanh cảm tưởng rằng mình là một người đàng hoàng không làm cái gì lúi xùi qua quýt. Có lần, đi họp ở bên Tiệp (nay thường hay gọi là nước Séc), Nguyễn Khải trở về kể với tôi là không may phải chuyến đi đúng mùa lạnh, bao nhiêu tiền sinh hoạt phí được nhận dồn cả vào chiếc áo khoác loại hàng cao cấp bên nước bạn cũng loại thật giàu mới dám mua. Tôi không thích bọn Tây nó nhìn mình xo rụi trong chiếc áo vét tài chính cà khổ, nên mặc dù thừa biết rằng về Hà Nội chả có dịp nào để xỏ tay nữa cũng cứ phải sắm bằng được, Nguyễn Khải giải thích thêm như vậy.
Phim Thất Kiếm
Cái sự thích rành mạch rõ ràng và nếu như đàng hoàng được thì càng tốt nói trên không chỉ là phong cách ăn mặc mà cũng là phong cách sống, phong cách viết của Nguyễn Khải nữa. Ở đây tôi xin phép không nói kỹ về thứ văn ông vẫn viết, mà chỉ muốn lưu ý một điều: nếu như ai đó mạnh ở những ý tưởng thấp thoáng run rẩy thì ở Nguyễn Khải các ý tưởng chỉ được phép xuất hiện trên mặt giấy khi nó đã thật chín và không để cho bạn đọc hiểu sai được cái ngụ ý mà tác giả gửi gắm. Cho đến chữ viết của ông cũng rõ ràng và dù hơi thô nhưng lại có nét đẹp riêng ngay trong cái vẻ thô đó.
Phim Thất Kiếm
Hồi ấy trong cơ quan tôi có hoạ sĩ T. không được may mắn lắm về đường tình ái, nói nôm na là tán cô nào cũng hỏng, cuối cùng nhiều phen tình yêu nơi anh trở thành tình yêu một phía nghĩa là chỉ anh tự hiểu với anh, ngoài ra anh có kể cho ai thì bạn bè biết thôi, chứ không sao gây được bất kỳ chút xúc động nào nơi đối tượng. Biết thóp được sự tình đó, Nguyễn Khải thú lắm, thường hình dung ra những màn kịch:

“A, bây giờ ngồi một mình chắc là cu cậu đang nói to lên rằng nàng ơi, kẻ hèn mọn này sẵn sàng làm tôi mọi cho nàng, sẵn sàng quỳ dưới chân nàng!”.

“Thôi chết hôm nay trông ngao ngán lắm, chắc là không gặp được quay trở về tức tối, thề rằng từ nay không bao giờ thèm gặp gỡ người đẹp nữa”.

“Khốn nạn, cả khi yêu cũng như khi căm giận, nó có hay biết gì đâu mà chỉ mình biết với mình, hài hước là ở chỗ đó!”.

Khi diễn lại tấn kịch này, không phải Nguyễn Khải có bụng ghét bỏ gì hoạ sĩ T. Chẳng qua ông muốn qua đây rút ra một bài học nghề nghiệp: với người viết văn, cái đáng sợ nhất là nghèo ý tưởng; nhưng có một điều cũng dơ dáng không kém là anh không truyền đạt được ý tưởng của mình tới người đọc, mà nguyên nhân là vì anh suy nghĩ không kỹ, không hoàn toàn hiểu rõ ý mình hoặc đôi khi chỉ đơn giản vì anh tự ti nhát sợ. Lúc ấy thật ta có khác chi anh chàng vô duyên nọ!

Trong cái việc một nhà văn xuất hiện trước các bạn đồng nghiệp, đối với Nguyễn Khải, sự đàng hoàng càng được xem trọng.
Phim Thất Kiếm
Cũng như một số bạn bè khác khi còn trong độ tuổi gọi là nhà văn trẻ, tôi không tránh khỏi cái thói xấu thường tình là đi họp chỉ ngồi góc vắng, có ai hỏi gì thì lí nha lí nhí nói chẳng thành lời, đến lúc ra ngoài lại tiếc rẻ. Một vài lần Nguyễn Khải cũng tham gia điều khiển những cuộc họp ấy, thế là trở về, gặp ông trong cơ quan, tôi được nghe ông mát mẻ:

- Gớm trông các ông các bà điệu bộ mà sốt cả ruột. Hồi bằng tuổi các ông các bà bây giờ ấy à, đi họp là tôi ngồi ngay hàng đầu, có ý kiến gì thì nói chẻ hoe ra hết. Nếu như được dự một buổi họp quan trọng mà thấy cần phát biểu là tôi còn viết ra nữa cho nó được mạch lạc. Tôn trọng mọi người bằng cách đào sâu suy nghĩ vấn đề định nói chứ không phải lối rụt rè khiêm tốn hão mà các ông vẫn quen bộc lộ.

Sự đàng hoàng rành mạch còn liên quan đến cả sự tồn tại của Nguyễn Khải trong lòng đồng nghiệp.

Trên cái sân rộng trước nhà hoặc trong những căn phòng sàn gỗ bóng loáng của ngôi nhà 4 Lý Nam Đế, những năm chiến tranh anh em ở tạp chí Văn nghệ Quân đội thường có lối quây quần tán phét, tạm gọi là “giao ban”. Đời sống văn chương nhiều điều đã bộc lộ hết cả trên mặt báo nhưng lại có những điều mà mọi người chỉ có thể nói miệng với nhau. Anh này vừa đi thực tế về, anh kia có ông hàng xóm vừa ở chiến trường ra họp, kể tình hình trong ấy ra sao – có muôn vàn câu chuyện mà chúng tôi cần nói cho nhau nghe, bởi đối với những người viết văn, mỗi lần nói coi như một lần được nháp thử những ý nghĩ của mình, nữa đây lại được nói trước một cử toạ chọn lọc như anh em đồng nghiệp, mỗi buổi gặp gỡ quả là cả một sân khấu để người này có dịp thi thố tài nghệ, người kia tha hồ quan sát. Sau một buổi trò chuyện, nói như bây giờ là đầy ắp thông tin, và được lăn ra mà cười, một anh nào đó hình như là Nguyễn Minh Châu đã nói đùa:

- Ngày nào cũng gặp nhau mà vẫn cứ mê nhau như thường!

Trong những buổi trò chuyện đầy hào hứng và mỗi người có dịp thể hiện một tính cách ấy, thú thực từ sự tò mò của một dân ngoại đạo mới nhập nghề, có một người mà tôi hằng mong mỏi được nghe, người đó là Nguyễn Khải. Đến với đám đông, Nguyễn Khải như cá gặp nước. Hàng loạt tài năng của ông lúc này có dịp bộc lộ: khả năng đánh hơi nghe ngóng nắm bắt được cái gọi là tinh thần chung của cả đám; tài hoà nhập với mọi người, nói to lên hộ mọi người cái điều họ mới chỉ cảm thấy mà chưa kịp nói thành lời; khả năng mang lại ý nghĩa cho những chuyện tưởng như không đâu vào đâu và ngược lại làm cho những điều cao xa trở nên dễ hiểu.
Phim Thất Kiếm
Có thể bảo những cuộc túm tụm chuyện trò này với Nguyễn Khải chính là một thứ cảnh diễn, ở dó ông luôn luôn biết tìm cho mình những vai diễn thích hợp.

Đại khái là một kịch bản như sau:

Đầu tiên ông chỉ nhũn nhặn đóng vai một người nghe chuyện thông minh, đoán biết được ý đồ của người khác và thỉnh thoảng thêm vào một vài lời bình luận giống như một thứ tiếng đế trong chèo để giúp đương sự thêm hào hứng nói.

Nhưng rồi đến một lúc nào đó, ông nhảy vào cuộc thâu tóm câu chuyện, giải thích mọi sự theo cách nhìn riêng.

Và rồi chung quanh chợt nhận ra rằng người đang trò chuyện với mình hình như có một chút ma mị đủ sức lôi mọi người đi theo.

Chẳng những là diễn viên chính mà ông còn đảm nhận luôn vai đạo diễn nữa.

Nhiều nhà nghiên cứu từng gặp nhau ở nhận xét: Nguyễn Khải là loại nhà văn mà qua các trang viết, yếu tố chủ quan bộc lộ hết sức mạnh mẽ; trong các vai truyện mà ông dựng nên người ta thấy ông hiện ra quá rõ. Ông lấn át nhân vật và hồn nhiên dùng họ làm cái loa của mình.

Thành thử để hình dung ra con người Nguyễn Khải trong những cuộc trò chuyện, người ta có thể dựa ngay vào những đoạn văn nằm rải rác trong những tác phẩm khác nhau mà ông đã viết.

Về tài ăn nói: “Hễ anh ta xuất hiện ở chỗ nào là chỗ đó nhộn nhịp hẳn lên vì những câu đùa hết sức thông minh và tài kể chuyện quyến rũ khó ai sánh kịp” -nhân vật Hoè trong Hãy đi xa hơn nữa.

Về sự đa dạng của giọng điệu và ngôn từ : “Trong ban quản trị chỉ có Tuy Kiền là biết cách nói chuyện với dân thợ làm nghề tự do. Ông ta vừa có vẻ chân thật lại vừa thớ lợ tí chút, hết sức tin cẩn rộng rãi nhưng vẫn chặt chẽ đòi hỏi; ngay những câu nói mà Tuy Kiền dùng với họ cũng rất đặc sắc: có cả sự lễ phép lẫn cái lõi đời, ngọt ngào lẫn sừng sỏ, bóng gió xa xôi lẫn trắng trợn, thô kệch. Đủ vẻ!” – nhân vật Tuy Kiền trong Tầm nhìn xa.
Phim Thất Kiếm
Về cái giọng riêng nó là dấu hiệu thấy rõ nhất của một con người: “Cách ăn nói của Mơ bao giờ cũng táo tợn thẳng thắn nếu cần phải nói hết lời cũng cứ nói”. “Ăn nói rất sỗ rất thô mà nghe được ấy là cái tài riêng, cái duyên lạ của chị từ ngày còn bé” – các nhân vật Mơ trong Chủ tịch huyện, và Hoàng trong Gặp gỡ cuối năm.

Có một kỷ nịêm nhỏ trong mối giao thiệp của tôi với Nguyễn Khải có liên quan đến ham muốn được trình bày được thuyết phục của nhà văn này. Sau nhiều phen trò chuyện thân mật, cũng có lúc chúng tôi cãi nhau. Mà khi đã cãi nhau thì ai chả muốn được! Nguyễn Khải trị tôi thẳng cánh bằng cách nói tuột vào mặt:

- Mày thì chỉ được cái ngồi đây nghe tao nói rồi hóng hớt chứ biết gì.

Tôi phải tìm cách tự vệ:

- Anh đừng lên mặt ban ơn cho tôi như vậy. Nếu nói với tôi anh không thấy thú vị hơn nói với người khác và nói chung là hoàn toàn vô lợi lộc, thì một người ích kỷ như anh sẽ không bao giờ chịu nói.

(Ở chỗ này tôi nhớ tới lời tự thú của nhân vật Nam trong Hãy đi xa hơn nữa: “Thỉnh thoảng vớ được một người chịu nghe mình thực sự thì tôi có thể nói suốt đêm được”).

Khái quát lên một chút, có thể bảo con người trong Nguyễn Khải là con người nói năng và đây là nhân tố làm nên tính chất hiện đại của họ.

Thậm chí có lúc cái sự nói ít hay nói nhiều của nhân vật cũng là một dấu hiệu chứng tỏ thời thế thay đổi: “Xưa kia bố nói rất ít, mỗi chúng ta đều nói rất ít. Bây giờ tất cả mọi người đều nói quá nhiều. Con sợ phải giáp mặt mọi người, những mặt người dễ sợ những câu nói dễ sợ” (lời nhân vật Phượng trong vở kịch Cách mạng).
Phim Thất Kiếm
Trong đời sống văn chương hàng ngày, số người biết uốn ba tấc lưỡi nói như rồng leo số đó không phải là ít. Nói và viết là hai phương diện khác nhau của cùng một quá trình: quá trình con người lên tiếng trước đời sống, và bằng cách đó mỗi người tự khẳng định.

Tuy nhiên cái việc ham nói, đặc biệt là thích nói trước đám đông của Nguyễn Khải, đối với việc sáng tác của ông, hình như còn có chút ý nghĩa gì hơn thế.

Ở mỗi chúng ta, sự phân cách giữa mình và người chỉ là tương đối: Mỗi cuộc đối thoại thật ra là một dịp để ta tự thuyết phục. Khi viết cho mình cũng là ta đang viết cho người. V. Hugo từng nói đại ý: khờ khạo thay nếu anh tưởng rằng tôi viết cho tôi mà không phải viết cho anh.

Có điều nếu tìm vào cái hích ban đầu, cái phía nặng đồng cân hơn giữa hai yếu tố chủ quan và khách quan thì phải công nhận ở phần đông nhà văn, nhu cầu tự biểu hiện là nhân tố chủ yếu. Viết để tự lý giải cho mình những thắc mắc, tự giải thoát khỏi những dằn vặt. Từ mình rồi mới đi đến với người.

Trong khi đó, với Nguyễn Khải mọi chuyện có khác một chút: Thế hệ các ông lớn lên trong hoàn cảnh cả xã hội cuốn vào một cuộc rung chuyển lớn lao mà chỉ có thể tóm tắt bằng hai chữ Cách mạng. Dù quan trọng đến đâu thì những số phận cá nhân cũng không có quyền được xem như vấn đề hàng đầu của đời sống. Thay vào đó, cái đích của mọi sự suy nghĩ là sự vận động của cả xã hội, là cách tác động để đẩy tới sự vận động đó. Con người mà xã hội cần nhất lúc này là những con người có lòng tin mạnh mẽ:

“Với anh mọi sự ở đời chả có gì là bí mật khó hiểu, nếu dược phân tích một cách khoa học thì có thể thay đổi được cả thế giới”.

Và biết cách lên tiếng trước mọi người, biết quyến rũ và thuyết phục rồi lôi cuốn họ cùng hành động – ít ra thì cũng được như một nhân vật của Đường trong mây:

“Mọi ý kiến của anh đều rõ ràng và sáng sủa và dứt khoát. Ngay những cách nói bông lơn của Suý cũng hết sức ý nhị và thông minh; sự cáu giận của anh vừa độ lượng vừa đúng lúc, cả cái ương bướng của anh để bảo vệ một ý kiến nào đó cũng dễ được mọi người đồng tình một cách vui vẻ”.

Khi những nhân vật cán bộ này cầm lấy bút sáng tác thì mọi chuyện sớm được định hướng một cách rõ ràng: viết văn là một cách chinh phục mọi người, buộc họ phải thấy mình đúng, thấy mình có lý và tin theo những điều mình muốn họ cũng tin như mình.

Những quan niệm nói trên cố nhiên không phải chỉ riêng thấy ở Nguyễn Khải. Do yêu cầu của hoàn cảnh, nhiều người cầm bút nửa cuối thế kỷ XX này cũng đã tập sống như vậy và trước lạ sau quen, dần dần cũng biến những ý tưởng ấy thành những tín điều tự nguyện. Có điều chỉ với Nguyễn Khải nó mới trở nên mềm mại uyển chuyển, bởi nó như được rút ra từ chính cuộc sống của ông, nó là cái bản tính tự nhiên mà ông vốn có.

Vào những năm còn trẻ ông không thích ai gọi mình là nhà văn, chẳng những thế còn muốn như là lẫn đi giữa mọi người, và khiến cho chung quanh có cảm tưởng rằng “họ có thể sống chung với tôi hàng năm mà không tìm thấy một cái gì quá khác biệt giữa tôi với họ” (Con đường dẫn tôi tới nghề văn).

Có một loại nghệ sĩ mà ông rất ghét ấy là những kẻ bản năng, tự phát, luôn luôn khoe rằng mình ngu ngơ ngây dại chẳng qua ngứa cổ hát chơi. Với ông, trong điều kiện của xã hội hiện đại, khi mà những cuộc đấu tranh tư tưởng trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết, thì loại nghệ sĩ như vậy không có chỗ đứng.

Ngay cả khi cái phần gọi là riêng tư lặt vặt ấy được một nhà văn như Nam Cao viết ra hồi trước Cách mạng và được nhiều người coi là cả một phát hiện nghệ thuật thì đối với Nguyễn Khải nó cũng không vì thế mà được ông quan tâm. Một mặt rất kính trọng cái sự hết lòng vì nghề nghiệp trong Nam Cao, mặt khác, trong một ít lần nói chuyện riêng với tôi, Nguyễn Khải vẫn tỏ ý không thíchSống mòn, và các truyện có cùng một giọng điệu, bởi theo ông, các tác phẩm ấy đi vào những mặt quá tủn mủn trong con người (!)

Lao động viết văn ở Nguyễn Khải như vậy là một chuỗi công việc cực nhọc. Có một câu nói trong Kinh Thánh ông thường thích nhắc lại đại ý nói mi là muối mà mi không mặn thì làm sao muối được những thứ khác: đối với ông đã bắt tay cầm bút mà viết không hay thì còn ra cái thể thống gì nữa? Đọc những tác phẩm có tư tưởng khác mình ông chỉ đau đớn vì chưa biết làm sao để viết hay như họ. Một điều ao ước thường trực trong lòng ông: Làm sao để trở nên một ngòi bút lợi hại?
Phim Thất Kiếm
Đọc sách để mở rộng thêm hiểu biết về nghề, đó là công việc ông ít khi nói to lên nhưng lại âm thầm theo đuổi.

Trước khi bắt tay viết, đúng hơn đồng thời với việc viết, ông để khá nhiều tâm huyết vào những cuộc trò chuyện với các đồng nghiệp và cả những người bình thường. Để làm gì? Để hiểu thêm về họ và nhất là có cơ sở để tác động tới họ. Điều kiện quan trọng nhất để thành công trong nghề nghiệp là bắt trúng được cái tinh thần của cuộc sống chung quanh. Bởi theo ông khi đã nắm được cái tinh thần ấy rồi thì dù viết về cái gì, về đề tài nào ông cũng tha hồ lui tới bay lượn, thậm chí như ông nói, đôi khi cả cái việc giỡn mặt độc giả một chút cũng có cái thú vị kỳ lạ.

Hãy tưởng tượng không khí của thành phố Sài Gòn thời gian sau 30-4-1975. Trước khi bắt tay viết những Gặp gỡ cuối năm,Cách mạng… Nguyễn Khải đã sống những ngày thật sự náo nức: nào được đối mặt với những người thân trong gia đình, nào được sống giữa một thực tế vừa xa lạ vừa gần gũi, nào thử đo tính cơ may chống chọi của những người từ rừng về trước sự cám dỗ của thành phố, nào đưa ra cách lý giải khác nhau đối với quá khứ và những cuộc tính toán cho tương lai. Trong hệ thống buôn bán cũ ở Sài Gòn bao giờ các cửa hàng lớn cũng có một người đi lấy giá chợ để điều chỉnh giá cả bán ra hàng ngày cho hợp với mặt bằng chung. Nơi người ta gặp gỡ để biết giá chung đó là chợ Hàm Nghi. Và một trong những người bạn lâu năm của Nguyễn Khải, một người hiểu Nguyễn Khải đến tận chân tơ kẽ tóc là Xuân Sách, đã có lần nói đùa về sự thèm khát muốn nắm bắt cái tinh thần của đời sống chung quanh thường trực ở Nguyễn Khải:

- Chắc là dân hàng ngày đi lấy giá ở chợ Hàm Nghi cũng chỉ háo hức đến như vậy.

Trước đó vào những năm 57-60, mảnh đất Điện Biên mới ra khỏi chiến tranh còn hoang vắng sở dĩ sinh động hẳn lên trong một bức tranh nhiều màu sắc (Mùa lạc), hay vùng Công giáo Nghĩa Hưng Nam Định có thể hiện ra với những cuộc tranh chấp quyết liệt (Xung đột) thì cũng là vì Nguyễn Khải không dừng lại ở cái khung cảnh riêng từng vùng mà biết đặt nó trên một toàn cảnh rộng lớn. Sau cái lần ngồi lì để làm cuốn Chiến sĩ, Nguyễn Khải hé ra với tôi một chút gọi là những đặc điểm riêng trong cách viết mà cũng là quan niệm viết của ông:

- Nói chung trong mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc, cái đáng lo nhất chỉ là xem xem mình có hiểu bạn đọc, cách nghĩ của mình có ăn khớp với cách nghĩ của họ hay không. Nếu có sự ăn khớp ấy tức ta còn viết được.

Ông không biết chứ những lần đi công tác tôi nghe kể thì ít mà nói thì rất nhiều. Làm sao mà mình lại có thể bắt một người chiến sĩ tự trình bày một cách sáng rõ những ý nghĩ của họ lúc này lúc nọ? Phải lấy mình mà suy ra chứ. Nói nhiều là một cách để tôi dò xem điều mình nói ra có được mọi người chấp nhận hay không. Nếu như mặc dầu anh mới gặp họ lần đầu mà đã có thể đùa bỡn được, bông phèng được như thế tức là hai bên có sự thông cảm với nhau rồi. Bấy giờ chỉ có việc giở sổ ra mà ghi chi tiết, cái này thì khó gì, ghi một lúc là xong, và về cứ thế mà viết thôi. Lý do làm cho tôi viết nhanh được cũng là ở đấy.

Có thể nói vớí Nguyễn Khải cái nhu cầu có được cảm giác chính xác về thực tế là yêu cầu số một của sáng tác, nó làm cho ông có thể tự tin ở ý nghĩa của công việc, do đó làm cho con người ông trở nên mau mắn sinh động hẳn lên.

Sau khi đã có cái hích ban đầu này thì bộ máy sáng tạo ở ông bắt đầu hoạt động với tốc độ mà nhiều người ở ngoài nhìn thấy chóng mặt:


“Anh khao khát được đương đầu với những bí mật, được tìm tới những khám phá và khi đã thông thạo rồi lại được đứng trước những bí mật mới. Từ bao nhiêu chuyện chiến đấu Cảo được nghe, anh liền nhào nặn lại, tô vẽ lại để có bố cục chặt chẽ hơn, tình huống hiểm nghèo hơn, thắng lợi rực rỡ hơn”.

Đoạn văn trên chỉ có liên quan đến một nhân vật phụ trong tiểu thuyết Đường trong mây, nhưng lại có vẻ giống như một đoạn tự mô tả của Nguyễn Khải trong công việc. Khi biết rằng mình có thể đóng góp, cống hiến, vừa làm tròn nghĩa vụ công dân vừa có danh hơn người, nổi trội hơn người, được kính trọng hơn người, thì cũng là lúc ông tìm thấy niềm say mê để dồn tụ mọi sức lực cho sự sáng tạo.

Thậm chí cả đến những thói quen của Nguyễn Khải cũng được thay đổi, được từ bỏ hay được hình thành, cho phù hợp với yêu cầu của nghề nghiệp.
Phim Thất Kiếm
Những ai có phen tạm gọi là thân mật với Nguyễn Khải hẳn đều biết một quy tắc ứng xử của nhà văn này: bạn bè là để trò chuyện, trao đổi suy nghĩ nhận xét. Và nếu được nói thẳng thắn mà không sợ mang tiếng là thực dụng, thì đấy là chỗ giúp ta có thêm thông tin để hiểu thêm về cuộc đời, cũng như để khi chưa viết được thì ta đến tán chuyện; với những người lịch lãm những cuộc chuyện trò này không bao giờ vô bổ hoàn toàn mà trong khi đối thoại, đầu óc ta tự nhiên sắc bén, rất nhiều ý tưởng chợt loé lên một cách ngẫu nhiên, và quay trở về ta chợt thấy mình giàu có hẳn lên. Chứ cái lối tìm ở bạn bè một người đồng cảm, để rồi nếu như trong đời riêng có gì day dứt đau khổ thì an ủi động viên nhau, cái kiểu cư xử đó cũ lắm rồi, thời buổi này còn có mấy ai tự nhận là theo được (!). (Hẳn mọi người đều biết là tôi không mang chuyện gia đình tôi ra than thở với các anh, khi có gì đau đớn thì tôi chịu lấy một mình chứ không hề hé răng kêu rên để tìm ở các anh một lời an ủi. Vậy thì xin các anh cũng đừng chờ đợi ở tôi những sự cảm thông chia sẻ và nếu như có vì thế mà mang tiếng là nhẫn tâm ích kỷ thì tôi cũng xin chịu. Còn bao nhiêu việc lớn lao hơn chờ đợi, tôi tự thấy là tôi không bao giờ xao nhãng, chẳng nhẽ như thế chưa đủ hay sao?)
Phim Thất Kiếm
Ngoài sáng tác, có thể nói thẳng rằng ông không muốn chịu trách nhiêm về bất cứ vấn đề gì và càng không muốn chịu trách nhiệm về ai cả. Tự lượng sức mình chăng? Không muốn mất thì giờ vào những công việc mình không thành thạo? Hay là ích kỷ ngại khó và trong chừng mực nào đó kiêu ngạo đặt mình cao hơn mọi người? Từng ấy động cơ có cả và nó là điều nhiều phen Nguyễn Khải đã công khai thừa nhận. Song cũng chớ nên quên rằng trong đời sống hàng ngày, đấy lại là một người có cái vẻ xởi lởi lạ lùng, vui vẻ trò chuyện với bất cứ ai ngẫu nhiên gặp, hậm chí nói như nhà thơ Xuân Quỳnh lúc còn sống, đi với ai cũng như là thân mật từ lâu và sẵn sàng sẻ cửa sẻ nhà giúp đỡ họ. Vậy chẳng phải là mâu thuẫn sao?

Thưa không: nói chuyện với ai xong, về nhà là Nguyễn Khải quên ngay, hoặc như có nhớ tới những chuyện đó thì ông cũng chỉ coi nó như tài liệu sáng tác, thế thôi. Người khác trông vào khó chịu, ông biết, nhưng tự trong thâm tâm ông thấy thoải mái và có vẻ hài lòng vì đã tìm ra cách sống thích hợp.

phim Ma Cây



phim Ma Cây
phim Ma Cây 
phim Ma Cây 
Bộ phim "Ma Cây - Evil Dead (2013)": Phiên bản hiện đại của bộ phim kinh dị đẫm máu Evil Dead, làm lại từ tác phẩm cùng tên năm 1981 thu được 26 triệu USD trong tuần đầu tiên công chiếu, đứng đầu bảng xếp hạng doanh thu phòng vé Bắc Mỹ. Evil Dead (nổi tiếng ở Việt Nam với tên Ma cây) là cuộc chiến đấu của một nhóm bạn trẻ với ma quỷ tại một ngôi nhà trong rừng sâu, khi họ đang cắm trại và phát hiện ra một cuốn sách bí ẩn. Evil Dead được hãng phim Sony quảng cáo là “bộ phim kinh dị nhất bạn từng xem”, được xếp hạng R (Restricted - Không dành cho người dưới 17 tuổi mà không có cha mẹ hoặc người giám hộ đi cùng)


phim Ma Cây 
Lâu dần thỉnh thoảng vào ban đêm, các tài xế chạy qua đây vẫn thường bắt gặp một cô gái mặc đồ trắng toát từ phía dưới đi lên vẫy xe xin đi nhờ lên Đà Lạt. Đã có tài xế dừng lại đón. Họ thấy rõ ràng người con gái ấy đã bước lên xe, nói cười huyên thuyên, thế nhưng, vút một cái, chỗ ghế nơi cô gái ngồi bỗng nhiên trống không.
phim Ma Cây 
Có người lại kể rằng mấy tay tài xế taxi khi dừng để cô gái lên xe thì bỗng nhiên tay lái chao đảo. Và sau tiếng nói cười, nữ hành khách ấy bỗng nhiên biến mất. Rồi sau đó, người ta rỉ tai nhau rằng, cô gái này ngày xưa được viên chức người Pháp mời đến nhà chơi, rồi bị hãm hiếp và bị giết chết. Xác cô gái bị ném xuống giếng nước bên trong khuôn viên khu nhà. Một thời gian sau, tên chủ nhà người Pháp này cũng bị giết chết rất dã man.

Những hiện tượng thường xảy  với những người ở trong căn nhà này là khi đang ngủ bỗng giật mình tỉnh dậy thì thấy đang nằm lơ lửng trên không trung, hoặc đang nằm ngoài hành lang. Các bác tài trên đường lên đèo Prenn thỉnh thoảng thấy một cái bóng trắng ngồi đung đưa ngoài ban công tầng trên.

Đã có lần, một nhóm 4 thanh niên canh giữ ngôi nhà. Một đêm, khi cả 4 đang ngồi trước lò sưởi bỗng ngọn lửa bùng lên đến hơn 1m, lại có tiếng bập, bập... như súng nổ rồi tự nhiên tắt ngấm. Thế là cả 4 người xách xe máy chạy về Đà Lạt không thấy quay trở lại.
phim Ma Cây Ông Nguyễn Hồng Nhi (trú tại phường 3, Đà Lạt), người đã một thời nhận hợp đồng bảo vệ ngôi nhà ma nói trên, kể và cho biết thêm, ngôi nhà còn trở nên ly kỳ bởi 3 nấm mộ... tự dưng mà có.

Đó là mộ của người con gái hận tình, thắt cổ tự tử ngay trong ngôi nhà và của hai đứa trẻ chết một cách... bí ẩn. Người quản gia ở đây mỗi ngày đều phải thắp nhang thờ cúng thì mới không bị phá.

Có lẽ vì vậy mà ông ta chưa thấy oan hồn này nhưng con trai ông ta và những người bạn nặng vía đều đã thấy cô gái dân tộc ngày nào bây giờ đã thành một hồn ma già nua nhăn nheo, đáng sợ.
phim Ma Cây 
Tuy nhiên, khi gặp chính quyền nơi đây thì những lời đồn có ma trong ngôi biệt thự này là có lý do của nó. Do trong những năm chiến tranh, hoạt động của các tổ chức cách mạng ở đây rất mạnh. Để đảm bảo bí mật các cán bộ của ta đã tạo nên những lời đồn đại về ma để tránh sự chú ý của mọi người. Bên cạnh đó, qua tiếp xúc với một số người trước đây đã có thời gian sống, làm việc trong những ngôi biệt thự bị cho là có ma thì nói rằng: "Trước đây Nhà nước chưa có điều kiện phục hồi đưa vào sử dụng nên nhiều tổ chức phải thuê người giữ nhà, vì sợ người ta vào đập phá nên đã những câu chuyện ma".

Chính bản thân họ đã ngủ trong những căn nhà này nhưng nào có thấy gì! Tiếng khóc than, tiếng ê a trong một số ngôi biệt thự thật  là tiếng gọi bạn tình của lũ mèo hoang. Trong đêm thanh vắng, nhiều người nghe tiếng của chúng cứ tưởng là có người khóc.. Cứ thế, cùng với những câu chuyện thương tâm nhưng hết sức rùng rợn từ lời kể của mọi người, các du khách có tính hiếu kỳ đã đến và những câu chuyện nhuốm màu liêu trai ở nơi này đã lan nhanh khiến cho ngôi biệt thự vốn dĩ xinh đẹp nhưng bị bỏ hoang lâu ngày, bị xuống cấp nghiêm trọng, bị mua đi bán lại nhiều lần này được đồn thổi là "ngôi nhà có ma".
phim Ma Cây 
Căn biệt thự bỏ hoang đầu tiên phải kể đến là căn nhà số 300 Kim Mã. Dù dọc theo con phố này là những ngôi nhà khang trang, sầm uất và đông đúc dân cư nhưng ngôi nhà rộng đến 3.000 m2 lại hoang phế từ nhiều thập kỷ nay.

Tòa nhà được xây nửa kiểu biệt thự, nửa kiểu nhà ở với những bức tường dày đến 40 cm, nhìn từ xa trông giống như chiếc lô cốt. Kiến trúc tòa nhà này khác xa với những ngôi nhà hiện đại xung quanh.
phim Ma Cây 
Bà Thái Thị Tẹo (SN 1943, ngụ ngõ 2, làng Vạn Phúc, phường Kim Mã) là người bán hàng nước gần ngôi nhà cho rằng, khu này ngày xưa là bãi tha ma. Cũng có lời đồn xưa  đây là bệnh viện nhưng bệnh nhân nào vào đây đều không giữ được tính mạng. Nhưng người ta viện vào lời đồn đó mà cho rằng đây là "đất dữ" không làm ăn sinh sống được. Có công ty từng đến thuê làm văn phòng nhưng "không chịu được" mà một thời gian sau đều chuyển đi.

"Sau khi thuê làm văn phòng ở đó, không hiểu sao cứ sáng mở cửa là thấy bàn ghế bị xếp chồng lên rồi đến tối nghe những tiếng động lạ. Ở tầng 2 thì nghe tiếng chổi quét loạt soạt ở tầng 3, lên tầng 3 thì thấy tiếng kêu ấy ở tầng 2. Trong những buổi mưa phùn âm u còn nghe những tiếng trẻ con khóc thảm thương", bà lão thuật lại.

Không chỉ bà Tẹo mà rất nhiều người dân xung quanh cũng kể lại không ít những câu chuyện kỳ bí xảy  trong ngôi nhà này. Từ việc các âm hồn bị nhốt, phá phách mong siêu thoát cho đến việc nhiều người bị vong ám khi đi qua ngôi nhà này. Tuy nhiên, tất cả những lời đồn đoán này đều do từ người nọ truyền đến tai ngư

Bác Nguyễn Văn Trung, một trong 3 người bảo vệ tòa nhà này gần chục năm nay cho biết, bác thường xuyên ngủ lại trong ngôi nhà mà không thấy có ma quỷ gì. Tất cả chỉ là lời đồn đại.

Treo đổi về vấn đề này, chính quyền phường Kim Mã cho biết, khu nhà đất này do một đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội sử dụng và quản lý trên cơ sở hiệp định ký kết ngày 14/12/1982. Tòa nhà này được xây dựng vào năm 1982 nhưng sau đó do khủng hoảng ở Đông Âu và sự tan rã của Liên Xô nên tòa đại sứ được chuyển sang chỗ khác. Do sự ràng buộc về Hiệp định đã ký kết nên tòa nhà không được sử dụng từ đó đến nay: "Chắc là do người ta không giải thích được vì sao giữa thủ đô nhộn nhịp, hoa lệ mà lại tồn tại một ngôi nhà to để hoang, rêu phong phủ kín nên đã viện cớ cho ma quỷ nhảm nhí để giải thích", vị đại diện phường Kim Mã cho biết.

phim Ma Cây 
Nằm trong khu đất vàng, căn nhà số 138 phố Hàng Trống đối diện trmặt hồ Gươm - vị trí thuộc hàng bậc nhất của thủ đô và kề cạnh là cả một khách sạn to lớn và những cửa hàng sang trọng. Sẽ không có gì đặc biệt nếu ngôi nhà cũ kỹ, mục nát giữa phố phường sầm uất này không gắn liền với nhiều lời đồn thổi "rợn người".
Wednesday, May 22, 2013

PHIM TIẾU NGẠO GIANG HỒ




Tiếu Ngạo Giang Hồ
Phim Tiếu Ngạo Giang Hồ

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
Đạo diễn: Diễn viên: Lý Á Bằng, Hồ Tịnh Quốc gia: Trung Quốc Thể loại: Phim kiếm hiệp Thời lượng: 40 tập Năm: 2001





  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
Từ từ, mày làm như...?
- Quà tao đâu! - Thằng Tuấn ngồi một mình ở phòng, không biết nó cô đơn quá hoá rồ không nữa.
- Đây quà mày này! - Tôi móc cái khăn của khu du lịch khoa ra đưa cho nó, còn nguyên cái logo khu du lịch to tướng.
- Con khỉ...!
- Rồi, bớt nóng, chờ tao tắm cái đã!

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
Mặc kệ thằng bạn mặt nhăn hơn quả táo thuốc Bắc, tôi ào vào phòng tắm, xối nước ầm ĩ, hát hò ỏm tỏi.

- Mày im miệng dùm tao được không!
- Đang vui...! - Tôi lại vu vơ hát tiếp.
- Có gì mà vui vậy, cua được em nào à?

Thực chất, tôi cũng chả hiểu tôi vui bởi cái gì nữa, nên chẳng trả lời thằng bạn, cứ thế mà lẩm nhẩm lại mấy câu trong bài Riêng một góc trời vừa nghe.

- Mấy thằng kia đâu? - Tôi nhấp ngụm nước ngọt, thắc mắc hỏi thằng Tuấn.
- Đi hết rồi, đứa lên bác chơi, đứa đi đâu tao cũng không rõ.
- Ờ,thế mày không đi chơi à? - Tôi đẩy cái dĩa trái cây sang trước mặt nó, coi như làm quà đi chơi về.
- Chơi bời con khỉ, sắp thi rồi mày!

Nghe đến chữ gần thi tôi mới sực nhớ ra, không khác gì sét đánh ngang tai giữa buổi trưa.

- Chết mồ, giờ cũng tháng mười hai rồi!
- Ừ, nửa tháng nửa thi, học hành gì chưa?
- Chưa! - Tôi thở dài ngao ngán.

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
Vị chi, tôi phải thi sáu môn và có tổng thời gian là mười lăm ngày để ôn thi. Mỗi môn sẽ ngốn của tôi thời gian hai ngày rưỡi, nghe có vẻ khó khăn khi trên lớp, tôi hay ngủ gục đến nỗi không biết kiến thức mình hổng ở đâu nữa.

- Mặt mày sao nghệt ra thế?
- Đang tính...!
- Mày tính cái gì? - Thằng Tuấn nhăn mặt khó hiểu.
- Tính xác suất tao đậu tất cả! - Tôi nhe răng cười khà khà.

Thằng Tuấn đành lắc đầu, bó tay trước cái vẻ tự tin giả tạo của tôi. Nó nào biết, tôi cũng đang lo sốt vó cả lên chứ đâu.

Về đến phòng, tôi leo lên giường, ngủ mộ tgiấc. Dù sao việc bồi dưỡng sức khoẻ là điều đầu tiên cần phải làm lúc này.

Tiếp theo, tôi nhắn tin cho Thương xin sự viện trợ.

- Này, Thương ghi hết trong này, có gì không hiểu cứ hỏi nhé!

Thương chìa ra sáu cuốn vở, tôi lật sơ qua, có vẻ đúng như lời quảng cáo của cô bạn, không thiếu sót một bài nào. Đúng là con gái có khác, chả bù cho tụi con trai chúng tôi. Tôi sáu môn thì ghi chép vào ba cuốn vở, thiếu đầu thiếu cuối, còn vẽ nhăng cuội cả lên, đến nỗi, học gần hết một học kì, mà có khi cuốn vở còn mới tinh nữa là.

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
- Có gì mà suy tư vậy?
- À, không, có gì Tín sẽ hỏi!

Tôi nói rồi vẫy tay chào Thương, phóng thẳng ra cửa hàng photo ở hội quán kí túc. Hùng dũng, hiên ngang, đặt chồng vở lên mặt bàn.

- Photo hết dùm con cô ơi.

Bà chủ quán mở chồng vở ra, rồi quay lại nhìn tôi, với cái vẻ mặt khó chịu. Chắc là không ưa mấy thằng học hành cẩu thả, để giờ gần thi rồi mới vắt chân lên cổ mà chạy đua.

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
Tôi hoàn trả tất cả cho Thương, cầm đống photo về và bước vào chương trình chuẩn bị thi cử. Phòng tôi cũng chẳng thằng nào khác tôi là mấy, cứ lầm rầm như đọc kinh. Thằng Việt thì treo cái tờ giấy:“Quyết tâm học thi” lên bức tường ở khoảng giường nó. Đúng là tinh thần võ đạo có khác, làm cái gì cũng ngút trời chí khí.

Phòng chúng tôi chẳng thằng nào bảo thằng nào, cứ thế cắm cúi học. Bình thường thì cứ thong thả, thong dong mãi đến tối mới chịu ngồi vào bàn chong đèn, thì nay, cứ xong giờ cơm tối là nháo nhào ngồi nghiêm túc, viết lách, chau mày, bóp trán. Đến hai ba giờ sáng thì thằng đầu tiên mới chịu lăn ra ngủ.

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
- Này, sao mặt thâm quầng vậy? - Thương nhìn tôi sau một tuần tu luyện.
- Luyện công quá độ, tẩu hoả nhập ma!
- Luyện công...!
- Chứ còn gì nữa, sắp thi rồi!
- Ồ! - Thương gật gù ra vẻ thông cảm.

Bình thường, Phong và Thương học rất chăm chỉ nên đến sát kì thi, hai người bạn tôi rất vững tâm. Họ tỏ ra thoải mái, chẳng lo sợ điều gì cả. Còn tôi với Bông Xù thì cứ rối hết cả lên, đúng là anh em có nạn cùng chia.

- Giờ Phong kèm Vi, còn Tín chịu khó hỏi Thương nhé!
- À, ừm...!
- Sắp thi rồi, có gì hỏi thôi, đừng ngại!

Thằng Phong có vẻ hiểu rõ cái lòng tự trọng của một thằng con trai là như thế nào, nên động viên tôi. Tôi ầm ừ cho qua chuyện.

- Này,Tín có hiểu hết không vậy?
- Không!
- Sao không hỏi Thương?
- Thì cái gì cũng không hiểu, hỏi không kịp nữa! - Tôi tỏ vẻ bình thản, nhún vai.

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
Thương lắc đầu liên tục, trên quãng đường đi về kí túc, cô nàng nhất quyết bảo tôi cái gì không hiểu thì phải hỏi, vì thi cử là quan trọng. Nhưng tôi thuỷ chung cứ lắc đầu cho qua, cứ làm cái mặt

“Thi cử thôi, có gì quan trọng!”.

Khiến Thương phải chịu thua.

Đó là trước mặt tỏ vẻ, chứ lúc trong phòng, tôi hoàn toàn tập trung hết công suất, suốt ngày ngồi bên máy tính mày mò những điều chưa hiểu. Cũng chẳng biết có phải vì lòng tự trọng như thằng Phong dự tính, hay là do tôi không muốn mất mặt với cô bạn phòng đối diện hay không, tôi tuyệt nhiên chẳng bao giờ đi cầu đạo bao giờ. Một mình tôi giữa đống tài liệu, giữa những con số thống kê , đầu óc hoa lên, nhưng ý chí lì lợm khiến tôi vẫn sống sót.

Kiếm củi ba năm thiêu một giờ.

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
Tôi thi môn cuối cùng thì lúc đó cũng là gần giữa tháng một. Môn này đối với tôi hơi khó, vì tôi chưa kịp tìm hiểu cho kĩ.Đề bốn câu, làm đúng hai câu thì tôi qua môn, nhưng đến câu thứ hai thì tôi tắc tị, không viết thêm được gì nữa.

“Ba câu còn lại cứ lạ hoắc, chẳng biết Thầy có ra đề vượt kiến thức không nữa?” - Tôi cắn bút làu bàu, bắt đầu cố ghi tất cả những cái gì gọi là manh mối ra nháp, hi vọng trong cơn quẫn trí, sẽ có chút gì đó quen thuộc hiện lên.

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
Nhưng có lẽ đến khi tôi cắn nát cả đầu bút, trên tờ giấy thi của tôi cũng chỉ vọn vẹn được một câu.

Thương ngồi ngang với tôi, hai đứa đều ngồi đầu bàn nên cô nàng nhìn vào bài thi của tôi là đủ hiểu chuyện gì đang xảy ra với cái thằng “đã dốt không chịu hỏi?”.

- Này,bí câu nào vậy? - Thương nhỏ giọng, mắt không rời bài thi.
- Bí tất! - Tôi vươn người ra dựa vào bàn thở dài.

Thương nheo mắt nhìn tôi, rồi lại cắm cúi làm bài. Thời gian chín mươi phút trôi qua nhanh chóng, trong khi tờ giấy thi thì chưa thêm được chữ nào, còn tờ giấy nháp thì chi chít biết bao nhiêu là chữ, lần những cái gạch ngang thể hiện cho sự bất lực.

- Này...!
- Gì?

Tôi nhìn xuống đầu bàn của cô bạn, tờ giấy nháp với những dòng chữ nắn nót. Đó là câu trả lời cho bài tập số hai, nếu tôi không nhầm. Thương đang tỏ lòng hào hiệp cứu vớt tôi. Chỉ cần ngoan ngoãn chép hết những dòng chữ này vào, tôi sẽ chẳng phải rớt môn.

Giữa rớt một môn học, với bản tính tự trọng của một thằng con trai, đúng là đáng để cân nhắc. Nếu bây giờ mà chép thì tôi cũng chẳng phải sợ điều tiếng, bởi trong thi cử, cái chuyện bạn giúp bạn cũng đâu phải là chuyện gì mới mẻ.

Tôi cầm bút lên, chuẩn bị đưa mắt nhìn sang tờ giấy nháp của Thương. Rồi bất chợt tôi bỏ bút xuống, khoanh tay trước ngực. Thương nhìn sang tôi, nhìn sang giám thị rồi quay sang:

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
- Sao thế?
- Không sao cả?
- Sao không...?
- Không, khỏi đi, học lại cho chắc! - Tôi cười hề hề.

Mặt Thương nhăn nhó khó chịu khi lòng tốt bị tôi từ chối, cô bạn giữ nguyên khuôn mặt ấy cho đến khi hai đứa tôi ra khỏi phòng thi.

- Sao không chép đi?
- Làm gì! - Tôi thản nhiên hỏi ngược lại.
- Thì đậu chứ sao!
- Nhưng mà đậu rồi thì sao, có phải Tín làm đâu.

Tôi nói cứng trước mặt Thương, nhưng thực chất đúng lúc tôi bỏ bút xuống, thì có lẽ lòng tự tôn của một thằng con trai là điều duy nhất tôi nghĩ. Nhưng dù cho là lý do gì, thì tôi cũng đã nghĩ mình làm đúng. Trước giờ, ngoại trừ môn Văn, có lẽ chưa môn nào tôi dùng đến sự trợ giúp của bạn bè, hoặc tài liệu cả. Coi như lì hoặc ngu cũng được, nhưng điều đó làm tôi thoải mái.

Tôi vươn vai, hít một hơi dài:

- Thi xong rồi, thoải mái quá!

Thương lắc đầu, đi đằng sau, Bông Xù với Phong cũng lại nhập bọn. Bốn đứa kéo xuống căn - tin trường như một thói quen khi thi xong bất kì một môn gì. Dọc đường đi, chỉ có Phong và Thương là tích cực trao đổi về bài thi, còn tôi và Bông Xù thì tuyệt nhiên chẳng đả động gì cả, đúng rồi, ai mà muốn khơi dậy nỗi đau cơ chứ.

- Tín, đậu bao nhiêu môn vậy? - Thương đột nhiên quay sang hỏi tôi.
- Ờ, thì hên xui, hên thì năm môn, xui thì rớt hết! - Tôi thản nhiên nhún vai.
- Ờ!

Thương tỏ vẻ không hài lòng trước thái độ bình chân như vại, coi thường học hành của tôi. Dù sao, đó cũng chỉ là vẻ bên ngoài thôi, tôi cũng đã dành hết sức ôn thi nên năm môn trước, tôi tự tin dư sức vượt qua, thậm chí điểm số có thể nằm ở mức khá hẳn hoi.

Dù sao, cái cảm giác áp lực thi cử cũng hoàn toàn tiêu tan, tôi cảm thấy cái gông trên cổ biến đâu mất.

- Bao giờ về vậy Tín?
- Không biết nữa, có khi mấy ngày nữa!
- Về sớm vậy à? - Thằng Phong ngậm cái ống hút, ngước lên.
- Ờ, dù sao cũng nhớ nhà rồi!

Đúng thật là không khí Tết đang ùa về rạo rực khắp mọi con đường. Cái không khí mà người người tất bật, nhà nhà tất bật chuẩn bị khiến cho tôi có cảm giác nhớ nhà một cách khủng khiếp. Nếu không phải ghé qua nhà thăm Bác trước khi về thì có lẽ tối nay tôi đã yên vị trên xe về quê rồi.

- Vậy trước khi về anh lì xì cho em nhé? - Bông Xù nở nụ cười tươi, làm công cụ dẫn dụông anh nó.
- Không, lớn rồi, lì xì gì nữa! - Tôi cốc lên trán cô em gái.
- Này, cậu kia, sao lại đánh con gái thế...!

Cả bốn chúng tôi ngước lên, nhìn cái người vừa mới phát ngôn.

Tôi trợn tròn mắt, lắp bắp không thành tiếng, người vừa xuất hiện quá đột ngột sau một thời gian dài im hơi lặng tiếng.

- Ơ...!
- Ơ cái gì, cậu bao nhiêu tuổi rồi còn đi đánh con gái thế! - Người vừa ra tay nghĩa hiệp thẳng thừng quát lại tôi.
- ...!
- Xem ra tính tình chẳng thay đổi là bao!

Cả ba đứa bạn của tôi đều há hốc mồm nhìn nhau, chắc là lần đầu tiên thấy tôi có vẻ thất thế như thế, đồng thời đưa mắt nhìn tôi muốn dò hỏi xem đó là thần thánh phương nào.

- Không mời ngồi à?
- Vâng, nào dám ạ, mời hai chị ngồi! - Tôi xuôi xị đứng dậy kéo hai cái ghế tới.

Miệng Thương và Phong lẫn Bông Xù lần này há hốc ra.

- Mấy đứa là bạn của Tín à?
- Dạ! - Ba đứa bạn thấy tôi như vậy, cũng ngoan ngoãn theo, không dám manh động.
- Giới thiệu cho chị coi!

Tôi ngoan ngoãn giới thiệu từng người bạn một. Đến đoạn giới thiệu người vừa tới, thì tất cả đều im lặng lạ thường.

- Đây là chị Xuyến, chị...à...ờ...!
- Con trai mà ấp úng, thua cả con gái, chị là Xuyến! - Bà chị Nữ tặc nở nụ cười duyên dáng, chào ba người bạn tô

Chị đi cạnh bà chị Nữ tặc thì khều bà chị rồi nói nhỏ vào tai, chắc là có liên quan đến tôi nên thấy bà chị Xuyến lừ mắt sang nhìn tôi, mặt sáng quắc.
TIEU NGAO GIANG HO
- Là cậu em học chung trường cấp ba mình đó, sau mình một khoá!
- Có phải là cậu nhóc mà đánh nhau với thằng...! - Nói đến đó, bà chị bên cạnh vội đưa tay bịt miệng.

“Cậu nhóc ư?” - Tôi lầm rầm trong lòng, không dám thốt ra thành tiếng.

Có lẽ ba đứa bạn của tôi không hề đề phòng với bà chị Nữ tặc nên tỏ ra rất thích thú. Cũng phải thôi, chị Xuyến luôn là nhưthế, luôn tạo ra cảm giác cực kì gần gũi, thân thiết dù mới lần đầu tiên gặp mặt, một con người có sức hút với đám đông. Nhưng chỉ có tôi mới hiểu rõ sự“tàn ác” đằng sau khuôn mặt thánh thiện ấy.

- Rồi sao hả chị?
- À,bạn em ấy hả, chuyên gia ngồi sổ đầu bài! - Bà chị lại liếc tôi một cái nữa, có lẽ là do lâu quá chưa có cơ hội nên hôm nay dồn hết vào một lượt thì phải.
- Cái này em nghe rồi! - Bông Xù háo hức, muốn nghe chuyện mới hơn.

Tôi kịp xen ngang, trước khi cái chuyện tôichui rào vào trường bị lộ ra.

- Sao chị xuống đây!
- À, xuống thăm bạn, lâu rồi chị cũng không thấy mặt nó rồi, không ngờ được gặp ở đây nhỉ?

Cái nháy mắt đầy ý nhị, lẫn vào đó là giọng điệu hơi có vẻ giận khiến tôi chột dạ, ngồi im ngậm ống hút. Bà chị cũng chẳng thèm truy đuổi tôi nữa.

Sau khi hỏi han vài chuyện với mấy đứa bạn, chị Xuyến với bà bạn đứng dậy chào tôi ra về.

- Này, ra chị nói cái này!

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
Tôi ngoan ngoãn đi theo, ra cái ghế đá cạnh đó, ngồi cạnh bà Nữ tặc. Bà chị kia ý tứ nên đứng ra xa chờ.

- Làm gì mà đổi số điện thoại không báo?
- Ơ, em quên mất!
- Lúcnào cũng đãng trí nhỉ, tuổi chưa bao nhiêu mà đã...! - Chị Xuyến thở dài, dường như xả hết nỗi bức xúc bấy lâu nay thì phải.
- Tại lúc đó em mất máy nên không có số chị.!
- Khỏi giải thích, còn không biết đường cho chị lại số nữa!

Tôi chậm rãi đọc từng chữ số, bà chị Nữ tặc nhá qua, rồi lắc lắc cái điện thoại cười tươi rạng rỡ:

- Vậy nhé, có số rồi đấy, đừng có làm mất nữa không thì liệu hồn!
- Dạ...! - Tôi lí nhí lưu số điện thoại bằng cái tên C. Nữ Tặc.
- Cho cơ hội chuộc tội, Tết lên nhà chị chơi!
- Vâng! - Tôi thở phào nhẹ nhõm.

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
Bà chị vỗ vai tôi chạy ra chỗ chị kia đang đứng đợi. Không quên bỏ lại một câu:

- Ăn uống nhiều chút nhé, trông gầy hơn rồi đấy!

Tôi toe toét đưa tay lên vẫy chào. Chào sự bất ngờ trùng hợp.

- Này, chị đó là ai vậy? - Thằng Phong sốt sắng.
- Chị ấy vui tính thiệt! - Thương nhấc gọng kính nhận xét.
- Dễ thương nữa! - Bông Xù hí hứng.

Tôi nhấp ngụm nước, kể lại chuyện xưa cho mấy người bạn nghe. Chuyện về một thằng học sinh đi học muộn chui rào vào trường, bị bà chị Cờ đỏ bắt gặp.

- “Con trai gì mà yếu ớt vậy?”.

Tôi mỉm cười khi nhớ lại cái cảnh tôi vác cái chân đau leo lên từng bậc cầu thang, bà chị Nữ Tặc đi trước, luôn miệng quát tháo. Nhớ đến cả cái việc tôi và thằng Huy phải dùng tay chân giải quyết, cũng vì nó nghĩ tôi đang tán tỉnh cô chị hơn tuổi.

Thời gian trôi qua nhanh thật, cũng đã là ba năm rồi. Và ba năm qua, vẫn có người không hề thay đổi. Vẫn còn cái tính khí vui vẻ đến tự nhiên lạ thường, sự cuốn hút, lôi cuốn người khác, và đặc biệt hơn, vẫn đầy quan tâm tới tôi.


CHAP 16: NGÀY VỀ!

- Này, chị đó có vẻ...!
- Vẻ gì cơ? - Tôi cầm chiếc điện thoại, tự nhiên nhìn số bà Nữ Tặc mà cười vu vơ. Đúng là lâu rồi mới gặp lại bạn cũ khiến cho tâm trạng tôi thoải mái hơn hẳn.
- Có vẻ thân với cậu nhỉ?
- Ừ! - Tôi sao nhãng gật đầu.
- Thế cậu cũng từng đánh nhau à...?

Tôi sững người lại.

- Ờ...cũng có! - Tôi thầm nghĩ trong bụng, không những có mà mấy lần ấy chứ.
- Cũng du côn quá hen! - Thương ngúng ngẩy đi lên trước.
- Ờ, thì con trai mà, đụng tay đụng chân là chuyện thường thôi.

Thương ậm ờ cho qua, hai đứa lại tiếp tục đi về phía con đường kí túc. Như một thói quen, đến giữa đường về, Thương rẽ vào những dãy kí túc trên, tôi cũng chẳng thèm thắc mắc mà đi theo như quán tính.

Thói quen muôn thuở của cô nàng: Ăn kem!

- Này, ngày xưa sao đánh nhau? - Thương đột ngột dừng lại.
- Ờ,thì mấy chuyện con nít ấy mà!
- Kể nghe đi! - Thương lộ cả vẻ tò mò ra khuôn mặt.
- Định điều tra gì à? - Tôi hất hàm dò hỏi.
- Không,tự nhiên muốn nghe thôi!

Dù gì cũng hết chủ đề để bàn tán, tôi hắng giọng kể lại chiến tích của tôi về vụ đánh nhau, tuy nhiên lý do vì sao tôi dám cả gan đụng tay đụng chân với đàn anh thì giấu biệt, cũng chẳng hay ho gì những nông nổi tuổi trẻ : Đánh nhau vì một cô bạn gái.

- Thế, sao cái ông đó lại đánh cậu! - Thương ngậm muỗng kem hỏi tiếp.
- Ờ,thì chắc là chướng mắt hoặc cái gì đó, không vừa lòng nên thế.

Thương gật đầu ngẫm nghĩ rồi lại hỏi tiếp:

- Chắc liên quan đến chị vừa nãy chứ gì?
- Sao lại thế, làm...làm gì có. Chỉ là chị đơn thuần thôi, có gì mà phải gây xích mích chứ! - Tôi xua tay chối quanh.

- Thế là có rồi! - Thương nhất mực dồn ép.
- Sao lại nghĩ thế? - Tôi giật mình, cố gắng lấy lại nét mắt lầm lì giả tạo.
- Thì mối liên quan duy nhất là chị đó, rồi bình thường thì Tín rất ít khi giải thích, thế mà giờ bất thường thế kia. Người ta gọi đó là...!
- ...! - Tôi im lặng lắng nghe.
- Có tật giật mình, đúng là có tật rồi! - Thương quơ cái muỗng kem lên hư không, tăng thêm tính thuyết phục của việc buộc tội.
- Vớ vẩn! - Tôi cười nhẹ, nhún vai.

Tấtnhiên, những suy đoán của Thương đều đúng hoàn toàn, kể cả việc nắm bắt tâm lý người khác thì cô nàng cũng là người cao tay chứ chẳng phải giỡn chơi. Chị Xuyến với tôi, ngoài mối quan hệ chị em cùng trường, ngoài mối quan hệ Nữ tặc - nạn nhân ra, còn một mối quan hệ không rõ ràng. Nó không quá mãnh liệt để cả hai có thể cảm thấy rõ, cũng không quá mờ nhạt để quên đi nhanh chóng.

Quý mến hơn bình thường, nhưng chưa đủ để gọi là yêu nhau, thế đấy!

- Này,vậy là về sớm thật hả?
- Ừ, chứ giờ này làm gì ở đây nữa.
- Thật là không còn gì để làm à?
- Ừ! - Tôi gật đầu.
- Ừ, chán nhỉ? - Thương buồn rầu, cảm thán không phải để hưởng ứng.

Hôm nay, cô nàng mới cho tôi trả tiền, vì hậu tạ chuyện cho tôi mượn vở để photo. Thương cũng chẳng có tâm trạng giành giật với tôi như mấy lần trước. Đi sánh đôi bên nhau, cô nàng đột nhiên nói nhỏ:

- Giá như quay lại lúc mới vào trường thì hay biết mấy!
- Làm gì, viễn vông!
- Ừ, thì ít nhất cũng có nhiều điều muốn có cơ hội làm lại ấy mà! - Thương tự nhiên cười nhẹ, vẻ mặt ủ rũ bay đi đâu mất. Dường như cô nàng cứ tưởng điều ước đã trở thành sự thật rồi thì phải.

Tôi thầm nghĩ trong đầu, đó có thể là chuyện Thương từ chối thằng Trung về chuyện tình cảm, hoặc cũng có thể nếu được trở lại,Thương sẽ cách xử sự khôn khéo hơn.

- Này,nhanh lên nếu không tớ bỏ cậu lại đấy!
- “Con gái là chúa rắc rối”!

Tôi nhún vai rồi bước vội theo Thương. Mới đây thôi đã nửa năm trôi qua rồi, cảm giác thật chóng vánh. Tôi cũng đã trở thành sinh viên được một học kì, cũng đã trưởng thành để ý thức và trách nhiệm với những việc mình làm.

Và trong tâm trạng những người mới lớn, một phần nào đó tôi cũng mong muốn giống Thương, có lẽ còn tham vọng hơn Thương. Tôi muốn trở lại những thời còn là một thằng nhóc lớp mười, một thằng nhóc có thể biết trước được mọi điều nó sẽ phạm phải để còn thay đổi, để không phải tự ân hận với chính mình.

Nhưng biết làm sao được, khi đó là quy luật cuộc sống, đôi khi sai lầm cũng là một thứ gì đó cần thiết.

- Mày nhắn tin cho ai mà ngồi cười hoài vậy mày!

Thằng Việt đang học bài thì ra cầm cây côn múa vài đường để giãn gân giãn cốt. Bất chợt thấy tôi khẽ cười một mình.

- Ờ, nhắn tin cho bà chị ấy mà!
- Xạo mày, bà chị nào mà cười hí hửng vậy?
- Có à, sao tao không thấy tao hí hửng chút nào vậy?

Cả phòng sáu đứa, tôi là đứa thi xong đầu tiên nên có thể an tâm thoải mái, năm đứa còn lại vẫn quyết tâm dùi mài kinh sử ghê lắm. Thằng Tuấn là đứa lo hơn cả, khi ngày mai là nó thi môn cuối cùng.

Gập điện thoại, tôi nằm trên giường gác chân khe khẽ hát. Ban đầu là khe khẽ, giọng tôi bắt đầu to dần lên, to dần lên:

- Im mày, hát dở mà hát hoài! - Thằng Tuấn ôm đầu càu nhàu.
- Im cho anh em còn học! - Thằng Khánh cũng chẳng còn xưng bá võ lâm trong game nữa,cũng bò ra cả bàn nhăn nhó, khi tôi làm mất tập trung.
- Vậy tao làm gì bây giờ?
- Thôi mày đi đâu chơi đi - Thằng Tuấn xua tay đuổi khéo.
- Chơi với ai?
- Sang rủ Thương kìa, có mỗi hai đứa mày là thi xong chứ nhiêu! - Thằng Trung nói tỉnh bơ.
- Ê, mày, bậy...?
- Có gì đâu, mày con nít thế nhỉ? - Giọng thằng Trung cực kì nghiêm túc.

Tôi mặt tối xầm với cái jean trên thanh để đồ mặc vào, lầm rầm đi ra khỏi phòng. Nhìn năm thằng bạn với ánh mắt choé lửa.

Cô gái trồng cây trong những chai nước đang ngồi trước hiên nhà.

- Ê,Thương, đi!
- ...? - Thương ngước lên nhìn tôi ngơ ngác.
- Đi thôi, bị mấy thằng tâm thần nó đuổi! - Tôi cố quay mặt vào cửa phòng hét lớn, rồi kịp chạy thật nhanh ra cái ghế đá ở phía xa, trước khi những câu chửi đáp trả kịp vang lên.

- Giờ đi đâu đây? - Chính tôi cũng chẳng biết đi đâu để giết thời gian cả.
- Hay lên sân bóng đi! - Thương tỉnh bơ trả lời.
- “Lên sân bóng giờ này?”

Cái sân bóng trên kí túc xá vào buổi tối thật im ắng. Tôi và cô bạn ngồi cạnh ghế đá, im lặng, cũng chẳng hiểu Thương cần gì ở cái khoảng trời tối thui này.

- Nhìn xa xa giống biển! - Thương hít một hơi dài như trước mặt có sóng vỗ bờ vậy.
- Biển thì không có cỏ thế này, có cát thôi!
- Đầu óc không biết tưởng tượng là gì? - Thương lại vươn vai hít một hơi dài nữa.

Tôi trầm ngâm nhìn cô bạn, dù trước mặt Thương cố tỏ vẻ vui bao nhiêu, thì tôi vẫn nhìn thấy những nét buồn thoang thoảng bám quanh cô bạn. Những giây phút trầm tư, rồi những câu đầy triết học đã tố giác .

- Cậu không muốn về nhà à?
- À, ừm, sao biết! - Thương gỡ cái gọng kính cận xuống, đôi mắt trong veo lại sáng lên trong đêm tối.
- Đoán thế, chắc là chuyện của chị Thương chăng?
- Thương không có chị! - Thương đưa đôi mắt trong veo sang thản nhiên nhìn tôi há hốc miệng.
- Chẳng phải...?
- Chỉ là để Vi khỏi bắt bẻ thôi!

Hoá ra, Thương cũng là cô gái lắm chiêu trò, chứ không hề đơn giản như tôi tưởng. Từ đầu năm chỉ là một cô bạn ít nói và hơi đểnh đoảng, còn khi tiếp xúc nhiều thì tôi nhận định, Thương không hề như vậy, kĩ tính, nắm tâm lý rất tốt và đặc biệt cũng rất nguy hiểm.

Ít nhất, tôi cũng mừng vì Thương không phải sống một cuộc sống, hoặc có người thân sống như thế, một kiểu sống vô hồn.

- Này, hồi trước tớ lên đây xem cậu đá bóng này!
- Biết rồi, fan hâm mộ âm thầm! - Tôi phá lên cười lớn.
- Xí, xem thôi, cậu đã cũng tàm tạm!
- Tàm tạm hả, thật không!
- Thật!
- Tưởng là dở chứ!

Thương cứ thơ thẩn mãi với bãi biển trong mơ, tôi trở thành một tay lính gác bất đắc dĩ, chỉ mong cho cô bạn sẽ kết thúc giấc mơ sớm.

- Về thôi!
- Ờ, về thôi! - Tôi thở phào nhẹ nhõm.

Nhưng về không có nghĩa là về phòng, mà có nghĩa là về quán kem.

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
- Ăn không?
- Nữa hả?

Thương gật đầu một cách hiển nhiên.
Kể từ ngày chơi thân với Thương, tôi bắt đầu biết sợ ăn kem là như thế nào.

Có lẽ đó là đêm cuối cùng của năm đó, tôi còn ở kí túc xá, ngồi nói chuyện với cô bạn. Bọn cùng phòng tôi cũng chẳng phải đuổi khéo kẻ ồn ào ra khỏi phòng để khỏi phiền chúng trong lúc ôn bài nữa.

- Về sớm mày? - Thằng Tuấn thấy tôi lục đục thu dọn đồ đạc gom vào balo.
- Ừ, về sớm thôi, chán rồi!

Tôi vỗ vai thằng bạn, chúc nó ăn Tết vui vẻ trước. Đi ra khỏi phòng, tôi chẳng thấy Thương đâu nên đành tặc lưỡi bỏ qua.

Bến xe miền Đông chật cứng người, tôi bon chen lắm mới cầm được cái vé trên tay. Cái vé đưa tôi về với gia đình thân yêu, chỉ sau một giấc ngủ. Tám giờ tối, xe bắt đầu lăn bánh, để lại thành phố ồn ào phía sau lưng, tôi mỉm cười chào tạm biệt.

Sáng sớm, những tiếng động, tiếng đánh thức các hành khách xuống trước khiến tôi choàng tỉnh dậy. Đây rồi, làn sương mờ buổi sáng, cảm giác se lạnh áp vào da đến tê người. Đây rồi những màu xanh bạt ngàn của những vườn cà phê hoà vào màu đỏ của đất, quen thuộc đến nỗi tôi tưởng nó đã được khảm vào lòng tôi.

- Cho con xuống đây chú ơi!

Xe dừng bánh, tôi chẳng giữ nổi bình tĩnh bước xuống nữa. Nhảy từ trên xe xuống một cách nhanh gọn, đặt balo xuống đất, tôi vươn vai hít một hơi dài. Cái chất đặc trưng của không khí trong lành vùng Tây Nguyên thật thú vị.

Tôi lững thững tản bộ trên con đường quen thuộc về nhà. Gần Tết có khác, khi những con đường được dọn dẹp trông thật quang đãng, những hàng rào gọn tắp chạy dài thành một dải. Đâu đó những cậu học sinh tiểu học đang chí choé nô giỡn, rượt nhau trên đường đến trường. Tôi phì cười nhớ lại khoảng thời gian của mình, khi tôi cũng là cậu học sinh lớp bốn thò lò mũi xanh.

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
- Này, cắn lén tao xong chạy à! - Tôi hét lớn khi thằng Nhân đen đánh vào lưng tôi rồi đắc chí chạy cách một khoảng.

Thằng Nhân với tôi lúc ấy chưa phải là bạn bè chiến hữu như thời cấp ba. Hồi đó, vì tinh thần xóm trên - xóm dưới nên hai chúng tôi đều coi nhau là kẻ thù, chỉ cần có cơ hội là sẽ ra tay với đối phương.

Thằng Nhân đắc chí, chổng mông vào kẻ bại trận, một hình thức sỉ nhục không có gì đau đớn bằng.

Tôi tháo dép, chọi thẳng vào nó. Cái dép bitis liệng một đường cong

- Bốp! - Trúng ngay vào đầu thằng nhóc đen xì.

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
Nó ré lên khóc rồi vừa chạy vừa mếu máo tìm đồng minh. Tôi thì hả hê đắc chí trong lòng:

- “Dám chơi tao à!”

Nguyệt đi bên cạnh thì lắc đầu liên tục:

- Cậu suốt ngày đánh nhau, tớ không chơi với cậu nữa!

Nhanh thật, mới đó cũng đã mười mấy năm. Và giờ đây, tôi lại đang nhìn đứa nhóc kế thừa thù hận truyền thống “xóm trên - xómdưới” một cách hồn nhiên và đầy ngây thơ.

Làn sương mỏng phủ xuống con đường trông nó thật hư ảo. Đâu đó xa xa, những bóng người lờ mờ đang đi lại. Ánh mặt trời nhú lên cũng bị phai màu ít nhiều. Tôi đã chờ quá lâu để lại được thấy cảm giác này.

Cái đầu tiên chạm vào mắt tôi là cánh cổng gỗ nằm nổi bật giữa hàng rào phủ dây tầm gửi. Khẽ đẩy cửa cổng, tôi bước vào khoảng sân rộng trước nhà. Ngôi nhà quen thuộc hiện ra trước mắt.Tiếp theo là khuôn mặt đầy vẻ bất ngờ của Ba, Mẹ tôi khi thằng con trai về không báo trước. Mẹ tôi thì hỏi han liên tục về nhìn tôi từ đầu cho đến chân, chắc bà đang hi vọng tôi không bị sứt mẻ chút nào. Ba tôi thì bình tĩnh hơn, khi ông chỉ bóp nhẹ vào cánh tay tôi và cười.

Không khí sum họp Tết đoàn viên bao giờ cũng thế, một hạnh phúc lớn lao.

- Về lúc nào đó thằng kia! - Lão anh tôi chống nạnh hất hàm.
- Mới!
- Học hành sao rồi?

  phim Tiếu Ngạo Giang Hồ
Nhìn cái mặt nham hiểm là tôi đủ biết lão anh chẳng phải tử tế quan tâm tới thằng em trai như vậy.

- Chắc rớt một môn!

Ba tôi khẽ nghiêm mặt lại, Mẹ tôi thấy thế nên xua tôi đi ra rửa mặt, nhằm cứu vãn tình thế. Tôi biết ý nên phóng lẹ, không quên dứ nắm đấm về phía ông anh tôi.

Cảm giác về nhà bao giờ cũng tuyệt vời như vậy!