phim Ngôi Nhà Không Ngủ Yên
phim Ngôi Nhà Không Ngủ Yên
Em đã run lên khi nghe cú điện thoại của anh. Em nằm úp mặt xuống gối và nghe tiếng tim đập thùm thụp.
Có một tiếng nói từ đâu đó vọng đến. Hãy tắt máy điện thoại đi. Khi tắt máy điện thoại thì sự liên lạc giữa anh và em sẽ không còn nữa. Vậy mà em lại với nó để sát vào người em hơn. Trong khoảng khắc điện thoại chưa đổ chuông, tim em đập rung lên và ngực em co tròn lại, tức ở hai bầu vú. Đầu em toang tuyếch. Em muốn đến với anh và em cũng muốn mình vượt qua sự cám dỗ ngọt ngào này. Chuông điện thoại đổ gắt gao:
- Em đã sắp đi chưa?
- Chưa.
- Sao lại không đi?
- Em sợ?
- Em sợ gì chứ?
- Em chỉ muốn ngồi bên anh trong một quán cà phê nhỏ.
- Ừ thì cứ đến đây đi, mình sẽ đi uống cà phê. Đi đi em. Anh đang chờ em đấy.
Em bật dậy ra khỏi giường và trang điểm cẩn thận. Em kẻ viền mắt thẫm hơn và thoa thêm phấn hồng lên má. Tim em vẫn đập gấp gáp.
Em dừng taxi ở phía bên kia đường và mua một thỏi singum. Em chợt nhớ ra chưa kịp đáng răng. Em có thói quen chỉ đánh răng vào buổi sáng và chiều nay là một ngoại lệ. Vì thế mà em quên.
Anh ra cửa đón em. Anh bảo:
- Em mặc đồ hiện đại đẹp hơn.
Em mặc quần bò và chiếc áo thun đen. Em hiểu anh đã so sánh với những lần anh đã gặp em khi thì em mặc áo dài khi thì mặc lụa.
phim Ngôi Nhà Không Ngủ Yên
Em theo anh vào khách sạn với những bước đi run rẩy. Chiếc sắc em cầm trong tay cũng rung lên. Anh bảo em ngồi xuống nghế. Anh cũng ngồi xuống bên cạnh em. Anh nhìn vào mắt em và nắm lấy tay em. Tay em đang rất lạnh. Tay anh ấm và khô. Em cảm nhận được sự ấm áp từ tay anh truyền sang. Anh cười. Em ấp úng và tránh cái nhìn của anh:
- Mình đi một quán cà phê nào đi anh.
- Ừ ở đây cũng có cà phê. Nhưng có lẽ mình vào một phòng nào đó để nói chuyện và uống cà phê.
Người em đông cứng lại. Em biết điều gì sẽ chờ em trong căn phòng đó.
Anh ra quầy lễ tân lấy chìa khoá.
- Đi em.
Em theo anh như một chiếc bóng vô hồn.
Trong phòng có hai chiếc nghế. Anh ngồi xuống một chiếc và em ngồi xuống chiếc đối diện. Anh lại nhìn vào mắt em.
- Em sợ gì thế? Nói gì đi em. Em sợ gì nào?
Em không nhìn vào mắt anh mà quay cái nhìn ra cửa. Dưới tay nắm cánh cửa có một tờ giấy ghi dòng chữ: quý khách nhớ chốt cửa. Cửa anh chưa đóng chặt vẫn mở he hé. Em cảm thấy yên tâm hơn.
- Em sợ ngày mai.
- Sao lại sợ ngày mai?
- Ngày mai em phải đối diện với những sự thật. Em sẽ nhìn mọi thứ đúng với tên gọi của nó. Và điều đó làm em khốn khổ.
- Hàng ngày thiên hạ đang sống với nhau một cách giả dối. Mình không sống được thật lòng với nhau hay sao? Em cũng thích anh chứ?
Em gật đầu.
- Anh cũng rất thích em mà.
Anh áp hai tay lên tay em. Tay anh vẫn rất ấm. Tay em đã bớt lạnh.
- Nào đã hết sợ chưa em?
Em ngước nhìn anh cái nhìn bối rối. Anh đứng lên kéo em ấp vào người anh. Cái hôn đầu tiên anh đặt lên má em. Em run rẩy như không thể đứng vững. Em tựa vào người anh. Anh ghì chặt em vào người anh.
phim Ngôi Nhà Không Ngủ Yên
Trước khi tan biến em còn cảm nhận được môi anh cũng rất ấm trên ngực em.
Em đã tan biến vào anh rồi. Người em cong cứng. Anh đã làm dịu em lại bằng những cái hôn. Nhưng ngay cả cái hôn cũng không làm dịu em được. Em mút chặt lưỡi anh và một biển nước ào ạt như muốn nhấn chìm em.
Thực ra em đã muốn làm điều này với anh từ lâu rồi. Ngay sau cái lần anh nhìn rất lâu vào em trong cái đám đông người ấy và nói em đẹp. Nhưng em lại muốn cả tình yêu nữa.
Sự cảm nhận của em đã truyền sang anh. Anh nói trong hơi thở gấp gáp:
- Em thế này làm sao anh quên em được.
Nước mắt em tràn trề vì hạnh phúc.
Em nằm duỗi người, hai tay để lên đầu. Em thả lõng người thoải mái. Anh lại hôn em. Môi anh vẫn nồng ấm. Anh đã kết thúc và rất thoả mãn. Một tay anh để lên ngực em xoa nhẹ. Em muốn khóc nức nở. Em đã cố gắng để không khóc. Em bắt ý nghĩ quay về một điều gì đó. Em chợt nhớ ra cửa anh vẫn để he hé. Và em bỗng sợ. Em nhổm người dậy để nhìn. Cửa đã được đóng chặt và cài kín từ bên trong. Em cố nghĩ xem anh đã cài kín cửa từ khi nào? Em đã không nhớ.
Anh vào nhà tắm. Tiếng nước xối ào ào. Em buồn ngủ. Muốn ngủ một giấc thật ngon. Nhưng em lại nhớ câu nói của anh:
- Em thế này anh làm sao mà quên em được.
Em đã cưỡng lại cơn buồn ngủ, cố thức để tận hưởng cảm giác.
Em nghĩ về anh. Anh là người đàn ông đang trên bệ phóng của danh vọng. Hằng đêm trong chương trình thời sự luôn thấy hình ảnh của anh. Nhưng tất cả những thứ đó không quan trọng với em. Cái dẫn đến giây phút em đang tận hưởng là vì em yêu và ngưỡng mộ anh. Em đã rất ngưỡng mộ anh và khao khát một tình yêu.
Em, một người đàn bà bình thường nhưng thông minh. Cái thông minh nhất của em là em nhận chân được mình là ai? Chỗ đứng của em ở chỗ nào trên trái đất này? Em cũng rất nhạy cảm. Em cảm nhận được ánh mắt đang chĩa về em nặng nhẹ thế nào?
Em biết trong một người đàn ông dẫu có quyền lực và địa vị thế nào thì vẫn có một phần của con người bình thường. Em đã yêu cái phần người bình thường đó trong anh.
Em đã không nhầm. Cái giây phút như tan biến trong nhau ấy. Em đã bừng tỉnh để nhận ra sự nức nở của anh trên ngực em. Trong cơn vọt trào của cảm xúc anh đã rên rỉ bằng tiếng của chú mèo chứ không phải tiếng gầm của sư tử. Em tự hào vì đã làm cho anh sung sướng.
Anh ra khỏi nhà tắm, quấn chặt mình trong chiếc khăn bông trắng. Nhìn thấy em vẫn nằm ngạo nghễ trên giường anh lấy chiếc chăn mỏng phủ lên người em. Em muốn đùa với anh. Em hất tung chăn và duỗi dài chân tay. Anh lại lấy chăn phủ lên người em. Em lại hất tung chăn ra. Lần thứ 3 em đã nhìn thấy ánh mắt bực bội của anh. Em bật dậy vào nhà tắm. Em soi mình vào gương. Da thịt em sáng loáng. Môi em đỏ mọng và hơi trễ xuống. Mắt em sáng long lanh.
Em ra khỏi nhà tắm và quấn mình trong chiếc khăn bông trắng. Anh đã mặc quần áo chỉnh tề. Em nhìn vào mắt anh, không còn ánh mắt bực bội nữa. Cái nhìn của anh đằm thắm và bao dung. Anh đến phía sau em cầm chiếc khăn lau vai cho em và nói:
- Vai em còn đọng nhiều nước quá.
Người em lại mềm ra để đón nhận một chiếc hôn vào vai. Và em còn xoay người để đón một cái hôn nữa vào môi. Nhưng anh chỉ hôn vào má em.
Đã xong. Quần áo em đã gọn gàng. Đầu tóc cũng gọn gàng. Môi em không trễ tràng nữa. Em ngồi như một tội đồ trên ghế. Anh cũng không nhìn em. Thời gian như đông cứng lại. Em sợ những khoảng khắc như thế này. Em bảo anh:
- Mình về đi.
- Ừ.
Em đứng lên và anh vẫn ngồi
- Anh không còn nhớ mấy câu thơ này là của ai nữa? Lemontop hay Puskin. Nhưng anh rất thích nó. Tạm biệt nhé nếu là lần cuối...
Người em như có hào quang toả ra. Em líu lo hát những bài hát từ trái tim. Mắt em cười và má em ửng đỏ. Em đã không kiểm soát được các hành vi của mình. Em đã hăm hở bước 26 bước gần đến thiên đường.
24 giờ sau. Đúng cái khoảnh khắc ấy, tim em lại đập loạn lên. Em chờ điện thoại của anh. Em chờ đúng cái khoảnh khác ấy. Cái khoảng khắc vào xế chiều, khi công việc đã vãn. Em đếm từng phút 5, 10, 15... 45. Đã sắp hết giờ làm việc. Tim em muốn nổ tung ra. Em không thể chờ được nữa. Em run rẩy bấm số điện thoại của anh.
phim Ngôi Nhà Không Ngủ Yên
- Alô, tôi nghe đây.
Em nghi ngại không biết có phải giọng nói của anh không?
- Cho tôi hỏi thăm, đây có phải là...
- Vâng tôi đây.
- ... là em, anh quên em rồi phải không?
- Em đấy à. Anh làm sao mà quên em được.
Đúng là giọng nói của anh hay nói với em rồi. Nhưng là giọng của công việc chứ không phải là giọng của nồng nàn.
- Em khoẻ không? Anh cũng đang định gọi cho em đây.
- Vâng.
Em không biết nói gì thêm nữa.
- Tý nữa anh còn có một cuộc hẹn. Chúc em trẻ, khoẻ, thành đạt và hạnh phúc.
- Và giữ vững lập trường, tư tưởng nữa phải không anh.
- Đúng thế. Vào một thời gian thích hợp nào đó chúng mình sẽ gặp nhau nữa nhé. À này em, khi tình cờ gặp nhau ở đám đông chúng mình nên tế nhị nhé.
- Vâng, em hiểu rồi.
Chân tay em run lẩy bẩy như mới ốm dậy.
Nỗi buồn làm em đổ sụp xuống. khi em đến chỗ hẹn cùng anh, em cũng đã nghĩ đến điều này như là một sự rủi ro. Nhưng em đã gạt nó đi bằng niềm tin và hy vọng.
Trong nỗi buồn em vẫn còn hy vọng. 48 giờ, 72 giờ... Em vẫn chờ và hy vọng và sợ hãi. Nỗi sợ hãi bị tổn thương lần nữa đã làm em không thể nhấc điện thoại để gọi cho anh.
Những ý nghĩ khốn khổ đã bủa vây em và nhấn chìm em xuống. Em là người đàn bà như thế nào đây, trong suy nghĩ của anh? Em hám danh vọng và hám tiền tài ư? Không, em đã có một cuộc sống đầy đủ về vật chất và danh vọng cần có của một người đàn bà bình thường. Em còn có cả lòng tự trọng. Bây giờ thì em biết chắc anh đã rất hiểu điều này khi chọn em phải không anh? Còn trong suy nghĩ của em, em là một người đàn bà dễ dãi hư hỏng ư? Không, em đã mê đắm anh để từ bỏ một người đàn ông đã yêu em thực lòng.
Em sống không luỵ người khác. Thiên đường và địa ngục của em cũng không giống của người khác. Thiên đường cách cuộc sống của em 27 bước chân. Em đã bước được 26 bước rồi. Chỉ cần một bước chân nữa thôi em sẽ được lên thiên đường. Sau cái khoảnh khắc tan biến vào anh, bước chân cuối cùng ấy em tưởng tượng ra đó chính là lời anh thổ lộ rằng anh yêu em. Sau 48 giờ, 72 giờ... thì chỉ cần những cú điện thoại hỏi thăm em dịu dàng.
Kỳ lạ thay cái thiên đường. Adam và Eva vì yêu nhau mà phải đầy xuống hạ giới. Còn em chỉ vì thiếu tình yêu em không được lên thiên đường. Còn anh, anh đang ở đâu?Anh có ở thiên đường của anh không? Mỗi buổi tối em vẫn thích xem chương trình thời sự. Em vẫn không thể dời mắt khỏi anh.
Em nhớ anh nói với em rằng, một thời gian thích hợp nào đó mình sẽ gặp nhau. Và em cũng nhớ câu thơ cuối anh đọc cho em, anh không phải là anh bây giờ. Em biết. Và em cũng không phải là em bây giờ. Trong khi những ý nghĩ quay cuồng làm khổ em, em đã tìm cho mình một lối thoát. Em đã lấy câu chuyện của một cô gái bán hoa để làm bài học răn mình. Câu chuyện rằng, một đêm cô đi bán hoa bị khách chơi trả cho một tờ bạc giả. Thay vì sự rên rỉ cô đã tự an ủi mình: Mình bị hiếp rồi.
Thực chất, thiếu một bước chân em đã bị sa xuống địa ngục rồi. Dưới địa ngục con người vô cảm, không còn cảm giác buồn đau và sung sướng nữa.
- Em không định gì đâu. Nhưng không hiểu sao chiều nay em chả muốn về nhà gì cả. Bao nhiêu là chuyện. Chẳng muốn nói ra nhưng em cứ nghĩ thế này chắc em chết mất. Bạn bè em toàn đứa vô tâm vô tính. Nói ra chúng nó lại bảo mình rách việc.
Cứ thích mua dây buộc mình. Mua rắc rối vào thân.
- Em uống nước chanh leo nhé. Cho nó bình tĩnh lại. Rồi nói với anh. Anh là cái hộp có thể giữ được vô khối bí mật trên đời. Anh vô hại như cát bụi thôi. Mấy khi em tìm đến với giới "thừa giấy vẽ voi". Ngành ngân hàng của em, thẻ nhân viên thị trường chứng khoán đâu phải thứ nghe rồi để đó. Đâu phải chuyện chơi. Anh kính phục em sát sàn sạt. Cho anh vào lãnh vực đó anh chết đứng như Từ Hải. Nào uống đi rồi từ từ kể cho thằng họa sĩ rách biết những gì đang làm cho cái máy rút tiền tự động phải chảy mồ hôi.
- Anh còn nói thế nữa em bỏ về liền!
- Thôi. Anh đùa. Bạn bè với nhau từ nhỏ còn chưa biết tính anh sao. Này. Uống nóng. Cái thứ quả lạ nhỉ! Gọi là chanh mà phảng phất mùi ổi chín. Ở đâu ra cái thứ quả quyến rũ này nhỉ!
Thiếu phụ tuổi hai nhăm trông ưu tư đón cốc nước quả từ gã đàn ông ăn mặc như giới trẻ theo đám híp hốp. Gã không tỉa tóc luống cày, không đội mũ len sụp hai tai, không quần thụng rách đầu gối, không đeo dây xích bạc như dây đeo cổ con chó trông nhà. Gã không làm vẻ bặm trợn hoặc khác đời như đám trẻ híp hốp, gã chỉ có vẻ quá tự tin đến mức như "kệ mẹ nó mọi sự". Bù lại hàm râu quai nón xanh xanh cái cằm vuông làm khuôn mặt gã đáng tin. Kiểu đàn ông làm ta có thể nói với anh ta chuyện con gián làm phiền ta trong bếp, con kiến đốt sưng đùi thằng bé nhà em. Nói những chuyện "thấp bé nhẹ cân" ấy mà không sợ anh ta thờ ơ cho là mình dở hơi. Có những người đàn ông làm bạn ta trong cả khi ta có chuyện không muốn nói với bạn gái. Người đàn ông với tâm hồn ngay thẳng, cái nhìn trong sáng là cực kỳ hiếm hoi trong thế giới máy móc sáng choang cái gì cũng tiện cần gì với tay ra là được ngay nhưng cô đơn đến độ không biết chia sẻ với ai cả khi vui. Cũng như lúc muốn khóc.
Thiếu phụ nghĩ miên man. Rồi làm như đang nói dở câu chuyện.
- Anh ạ. Mọi việc bắt đầu khi em trai chồng em tốt nghiệp đại học trong nam không xin được việc làm trong ấy. Ở Sài Gòn hai năm làm từ chân móc cống đến gánh vôi gạch vẫn không có chỗ dừng chân. Thế là chồng em bàn với em, em bảo cứ đưa chú ấy ra rồi tính. Anh em kẻ nam người bắc như thời chia cắt thế thì làm sao còn gọi là ruột thịt đùm bọc... Chú em chồng xách va-li ra. Thuê nhà trọ thì tốn lại vất vả. Em bảo chú ấy về ở với bọn em. Từ khi cưới nhau bây giờ em mới được gặp chú em. Gặp. Em lập tức thấy như mình cắn củ khoai sượng. Hai anh em họ, mọi nét giống nhau. Nhưng mọi vẻ lại khác nhau. Anh có biết rất nhiều trường hợp như thế không. Giống nhau. Gần như hai giọt nước. Nhưng một người ngồi trên núi cao. Một người là bần hàn như ngọn cỏ hôi. Em dùng chữ không đúng lắm. Nhưng anh có thấy thế không?
phim Ngôi Nhà Không Ngủ Yên
- Được rồi. Hiểu ý em rồi.
- Nghèo. Không kiếm ra một xu. Nhưng lúc nào cũng tinh tướng. Hắn bảo với em: cái nghề của chị nghe thì có vẻ kêu. Nhưng ở cái xứ có một xu người ta cũng lận vào cạp váy thì bố ai ưa cái kiểu xem bảng chữ mua bán từng cắc. Nhìn mấy thằng làm trong thị trường chứng khoán mà xem. Chắc vài năm thằng nào cũng thần kinh. Chị cứ về làm nội trợ anh của tôi thừa sức nuôi. Đàn bà là phải ở trong bếp. Có thế mới sinh ra cái giống tóc dài chân mỏng như chân vịt.
Anh xem. Miệng lưỡi sắc như dao lam. Cái mặt hắn lúc ấy trông giống kiểu mặt gà mái. Em sởn cả gai ốc. Nhưng phận chị dâu thì phải làm. Em bảo: tháng này chị làm thêm được ít tiền. Chú cầm lấy tiêu vặt. Hắn dửng dưng tay đút túi. Thôi. Chị không phải bận tâm! Biết hắn sĩ diện hão, em để tiền trên nóc tủ lạnh. Lên gác, xuống đã thấy biến mất cái phong bì. Mấy lần như thế, mỗi lần một kiểu, hắn không có chút đàng hoàng nào. Trong nhà còn người này người kia. Đưa sao lại không lấy ngay. Sao cứ thích lén lút. Bữa ăn, hắn chê cái này, gẩy gót cái kia y như là nhà của hắn. Cứ như hắn sinh ra đời không phải để ăn những thứ vớ vẩn này. Miệng thì chê. Tay thì gắp. Bất kể món gì em làm ra đều bị hắn chê. Như tát vào mặt. Nhưng không có gì ghê sợ bằng cái này. Dỗi. Có chuyện gì đó hắn bỏ lên phòng. Gọi ra ăn cơm không ra. Nhưng khi mọi người đi ngủ hắn lần xuống bếp. Mở tủ lạnh. Rón rén như con gián. Có điều này. Hắn thích ở trong bếp. Như một thứ bệnh. Mỗi lần vào bếp thấy hắn, em không dám vào. Hắn như một mụ đàn bà. Hắn vơ bên này, lau bên kia, chân di di từng hạt bụi, tay đập, miệng càm ràm như lên đồng. Cô giúp việc của em sợ quá xin nghỉ một thời gian, giao hẳn cái bếp ấy cho hắn.
Mà hắn hôi hám. Anh ạ. Quần áo chồng em mua cho hàng tủ, ngày nào hắn cũng thay. Nhưng đứng cạnh hắn em không chịu nổi. Hắn như các bà nằm ổ rơm ngày xưa. Ăn cao rắn cao dê cao ngựa.
Người lúc nào cũng bốc mùi lợm mửa. Chồng em thì vô tâm vô tư. Chịu được thằng em. Anh ấy không hề nghĩ đến là em không thể can đảm nổi...
- Mà sao anh lại thở dài?
Thiếu phụ hỏi gã họa sĩ đang uống cà-phê. Gã cười cười như đang nghĩ tới phần đáng nói của câu chuyện.
- Em cứ kể phần sau đi. Anh đoán ra một nửa rồi.
- Anh cứ làm như tinh lắm. Còn lâu.
- Thì kể tiếp đi!
Thiếu phụ ngồi thừ ra. Như không biết làm sao xua nổi ác cảm đang lớn dần lên nữa trong tâm hồn mình.
- Thằng cu nhà em đã được hai tuổi rồi. Cháu hay về bên ngoại. Em và chồng em vẫn sống như một đôi yêu nhau. Nhất là trong những đêm mùa đông. Anh ấy khỏe mạnh. Sạch sẽ. Nồng nàn. Như giới trẻ họ vẫn hát đấy. Nồng nàn, lúc nào cũng làm em không thở được. Mỗi bận là một cái gì mới. Không bao giờ lặp lại. Nhiều khi chồng em ngủ rồi, em nằm ngắm khuôn mặt anh ấy, phát khóc lên vì thấy mình may mắn hạnh phúc. Đi làm căng thẳng. Nhưng mỗi khi có chút thời gian, em đều nghĩ tới một đêm sắp tới với chồng. Được nghe tiếng thở, được xoa bàn tay lên cái lưng đẫm mồ hôi của anh ấy... Nói tóm, em yêu chồng đến độ mỗi đêm với em là được vào một vũ điệu mới. Tất cả trôi đi như trong điệu van. Nói văn vẻ thì như thế. Nhưng nó hay hơn thế nhiều.
- Được rồi. Anh hiểu rồi. Nghe em nói mà anh cũng nóng bừng cả người lên đây!
- Nhưng từ khi chú em chồng vào ở trong nhà em, không hiểu vì sao lại xảy ra nông nỗi này. Mỗi khi chồng em theo thói quen kéo em vào lòng, người em run bắn lên vì sợ hãi. Em ghê tởm. Cảm giác ghê tởm tràn ngập toàn thân. Người em, khô đi, khô từ ngón tay, từ sợi tóc. Em không còn một chút cảm xúc nào.
Thiếu phụ bưng mặt. Không khóc nhưng sự thổn thức như con sóng làm thân thể nàng như xốp đi, nhẹ bỗng, có thể tan biến.
phim Ngôi Nhà Không Ngủ Yên
- Cứ mỗi lần nghe anh ấy thở, mỗi lần ngón tay anh ấy theo thói quen dạo trên da thịt em, em lại nghĩ tới hắn - Chú em chồng. Em nghĩ hai anh em đã sinh ra từ trong một buồng trứng. Từng bú một bầu vú, một dòng sữa. Từng chơi với nhau từ nhỏ xíu. Sao chồng em không ngửi thấy mồ hôi toát ra từ con người kinh sợ ấy đang đầu độc không khí? Nghe nói những kẻ keo bẩn, bần tiện, ngu xuẩn, độc ác... thường có mùi rất nặng. Nghĩ đi rồi nghĩ lại. Suy xét, em lại thấy gã em chồng em đáng thương. Đáng thương quá. Vì mặc cảm nghèo, thua thiệt nên thường tỏ ra coi khinh mọi giá trị trên trái đất. Hắn chê từ cụ danh nhân nào đó có học vấn trên trời cho đến anh trí thức mua bằng trong xóm. Hắn chê tuốt mọi thành tựu. Cái gì hắn cũng bĩu môi xem như của rẻ. Cái gì cũng xem khinh. Hắn đáng thương như mấy anh trai làng chỉ nhìn thấy bờ ao xem thiên hạ như bụi cỏ.
Nhưng cảm giác ghê sợ hắn gây ra làm em tắc thở mỗi khi nằm trong chăn với chồng. Thân thể em chống lại quyết liệt dù lý trí em bảo rằng như thế là rất hỏng. Không được như thế. Đã hơn một tháng rồi em sợ mỗi khi tắt đèn. Em nghĩ cứ thế này mãi chắc điên... Nên, hôm nay em chả muốn về nhà. Gã em chồng em chuyển đi rồi anh ạ. Được năm hôm. Chồng em chắc có đọc được cái gì đó nên đã thuê nhà cho hắn. Xin cho hắn một việc làm có kỳ hạn để đủ tiền thuê nhà, tiền ăn.
- Hắn chuyển đi rồi nhưng mọi việc vẫn thế chứ gì?
- Vâng. Em biết là trong nhà không có hắn nữa. Nhưng cái sự anh em ruột nó cứ ám ảnh em. Em nghĩ hay em cũng đã thành con bệnh. Chồng em mấy hôm đầu khi em nguội ngắt, có vẻ ngạc nhiên. Dần dần anh ấy nghi. Em bắt gặp anh ấy tìm cả trong túi đi làm của em xem có gì lạ. Ngửi cả khăn quàng của em. Có lần còn theo em lúc em đi sang nhà mẹ đón thằng bé. Mắt của anh ấy nhìn em thế nào em biết. Nhưng em vẫn không thể nào mềm lại trong tay anh ấy nữa. Hôm qua, lúc nửa đêm em thức dậy thấy anh ấy nằm nhìn trân trân lên trần nhà. Rồi anh ấy nói, đủng đỉnh, như là nghĩ từ lâu lắm ấy. Anh ấy bảo em nghĩ em là ai cơ chứ? Em là một trong hàng ngàn những con vẹt công nghệ. Bắt chước của người ta tài tình thế, máy móc giỏi thế, tiếng nói của người ta cũng nhai lại sành điệu thế, nhưng để biết quý trọng những gì trời cho một cách may mắn thì không. Em nghĩ tình yêu nó tự đến với em đấy à? Hay em hỏng... chi tiết nào trong cái máy người của em rồi...?
Anh ạ, em bị sốc. Khi anh ấy gọi em là con vẹt của công nghệ. Hôm nay em không muốn về nhà, lạ thế đấy. Em đâu phải con vẹt của công nghệ. Nếu như anh ấy biết vì sao...
- Ấy ấy. Đừng nói điều đó ra. Em ruột nghĩa là bản thân anh ta đấy. Em cứ bịa ra một lý do gì đó. Còn cái vụ kia, cái sự liên tưởng kỳ lạ kia, anh nghĩ rồi nó sẽ nhạt dần đi...
- Em không biết nó sẽ như thế nào. Nhưng gã em trai của anh ấy làm sao bằng anh ấy được. Nguyên cái việc anh ấy gọi em là con vẹt công nghệ, em cũng thấy nể rồi. Gã em trai anh ấy chỉ biết thô lỗ vì thấy mình thấp kém, thấy ghen tị với chung quanh. Chồng em không phải như thế. Ồ, em nghĩ lại rồi. Anh ấy hay bao nhiêu ấy chứ.
Gã họa sĩ nheo nheo mắt nhìn thiếu phụ. Gã nhắc, giọng như nói với đứa trẻ đang muốn vứt đi con búp bê đầu tiên:
- Mà anh ấy lại khỏe mạnh. Nồng nàn. Nhất là trong những đêm mùa đông. Phải không?
- Thôi em đi về đây anh ạ. Giờ này chắc chồng em đã về rồi. Em phải qua chợ mua ít thức ăn nữa.
Gã họa sĩ nhìn trời, nói trống không:
- Hôm nay lạnh lắm đấy. Ta nhen bếp lửa, ta lồng tấm chăn - gã cao hứng đọc thơ - thứ thơ tha thiết của thời tinh khiết bây giờ đọc lên người ta bảo đồ dở hơi nhưng câu chuyện của "con vẹt công nghệ" làm gã vừa buồn vừa hoang mang. Thực ra người ta cũng chả phải nguội từ tim gan nguội ra. Người ngợm bao giờ chả xưa như trái đất.
Đến tận bây giờ, người ta vẫn chưa biết câu chuyện dưới đây đã xảy ra ở nước nàọ Chỉ biết rằng đó là một câu chuyện xảy ra cách đâu lâu lắm. Hồi đó là một hồi thái bình thịnh trị. Người nhà quê nhường cơm sẻ áo cho nhaụ Của rơi trước ngõ không ai thèm nhặt. Súc vật thân với giống người như anh em một nhà.
Có một vị quan kia, chán mùi hoạn lộ, xin cáo về nhà để di dưỡng tinh thần. Ông làm bạn với tách trà, giò cúc. Sáng, ông lên trên những đỉnh đồi cao để cho được gần trời; trông ngắm hạc bay, công múạ Chiều thì hoa cỏ thấy ông chống một cái gậy trúc ra đứng trước cổng nhà để nhìn nước nổi tăm, hay ngắm đám thế nhân đi lại ở trước đám bụị
phim Ngôi Nhà Không Ngủ Yên
Những hồi ức thời làm quan của ông trở lại trí não lúc này rất rõ ràng. Ông nhớ lại những lúc ở dinh thự có xe đưa pháo đón. Chao ôi, bây giờ nhìn lại thì còn có cái gì? Chỉ còn một tấm lòng. Ông ngậm ngùi về nỗi hư không của thế sự và đến tận lúc bấy giờ ông mới thật thâm hiểu rằng chỉ có tấm lòng là người bạn chung thủy ở với ta cho tới chết. Tấm lòng mà thư thái, không vẩn điều hối hận là của báu có tiền không mua được.
Ông hưu quan nhìn trước mặt là núi, nhìn sau lưng là núị ở giữa một dòng suối chảy thanh thanh. Ông nói với ông rằng:
"Sự ưa thích một khi đã đạt rồi thành chán. Trước đây ta giàu, hễ muốn là có tiền. Bây giờ ngồi ngẫm lại hồi đó, thật chẳng khác gì cái suối nó kêu lên một tiếng thì ở trong rừng này hai trái núi nọ đem tiếng vang ngay lạị
Thế sự bao giờ cũng chỉ quẩn quanh có thế thôị Duy sự khổ não thì bờ bến nào cũng có mà không hề giống nhau bao giờ. Người ta chém giết nhau, người ta lại giả dối với nhau; người ta khinh nhau, người ta lại ghét ghen nhau; người ta biệt ly rồi gặp nhau, người ta lại chia rẽ những đôi lứa không cho nhau sum họp".
Ông hưu quan nghĩ thế và rất buồn cho tâm lý người đờị Ông bèn lên ở trên một am vắng để dốc tìm đạo lý. Dưới chân am có một cái hố rất sâụ Trên cái hố có một cây thông cỗị
Một hôm, đương mơ màng ở dưới gốc thông, nhà đạo sĩ của chúng ta bỗng thấy một vật gì sa vào cái hố cách chỗ ông ngồi ba bước. Ông bèn đứng dậy xem. Thì ra đó là một nhà đi săn đuổi thú qua đó trượt chân mà ngã. Người đi săn ấy làm ngã luôn cả một con quạ và con rắn đứng bên. Người và hai con vật lăn lộn, nhảy nhót để cố thoát thân, nhưng không được.
Vị đạo sĩ bèn rằng:
- Thôi, các người, đợi đấỵ Ta sẽ có cách dắt lên chọ
Nói đoạn, ông bèn tìm một sợi dây thông thả xuống. Ông cho người nắm một đầu dâỵ Con rắn quấn lấy chân ngườị Con quạ hé mỏ đớp vào đuôi con rắn. Cả ba đều lên được. Thế là thoát chết.
Cả ba đều quỳ lạy vị đạo sĩ mà nói trong nước mắt:
- Bạch Đại đức, ngài đã cứu chúng tôi khỏi chết. Ơn ấy xin ghi đời! Chúng tôi xin lạy ngài và nguyện sẽ giúp ngài trong khi hữu sự, dẫu chết cũng không dám phàn nàn gì cả.
Vị đạo sĩ nâng cả ba lên. Người chưa kịp nói câu gì thì ông khách săn lại tiếp:
- Đại đức là một người cứu người mà không muốn người đền ân. Chúng tôi đã biết. Nhưng chúng tôi cúi xin ngài khi nào có việc đi qua tệ ốc thì ngài ghé lại để chúng tôi được thết đãi một chút, theo cái phận thấp hèn của chúng tôị
Con quạ nói:
- Tôi tên là Quạc. Khi nào Đại đức gặp chuyện chẳng may gì thì xin gọi tôi một tiếng để tôi đến hầụ
- Còn tôi, - con rắn nói, - tôi tên là Gầm. Cũng vậy, khi nào Đại đức gặp việc gì khó khăn, xin cứ tên Gầm của tôi mà gọị Tôi không chắc đã giúp Đại đức những điều gì quá sức tôị Nhưng tôi quyết đem thân ra làm việc để đáp ơn Đại đức.
Cuộc chia ly rất não nùng. Vị đạo sĩ niệm Phật để đưa người và vật xuống núi về trần, nhưng vật và người đều rớt nước mắt, đi xa tới hai dặm vẫn còn quay trở lạị
Trong vòm cây xanh, một nóc nhà rơm vẽ ra rất lờ mờ. Sương dày rơi xuống biệt hai thế giớị Xa xa, tiếng chầy kinh nện lên.
Năm ấy, trời làm đói kém. Hổ về ăn khoaị Lúa không còn gặt mà cây cối trên núi bị dơi và chuột cắn nát không còn một tráị Nhà đạo sĩ phải bỏ núi tìm xuống đồng bằng khuyến giáọ Bởi vì dưới đồng bằng thì hoa mầu năm trước người ta còn tích lại được nhiềụ Miếng ăn thì thực chẳng có thừa đâụ Nhưng khoai, đậu vẫn đủ cho lợn dùng mà lúa tốt thì những nhà thường thường vẫn có từng trăm hộc để cho người ta ăn đầy đủ.
phim Ngôi Nhà Không Ngủ Yên
Vị đạo sĩ của ta đi khuyến giáo hết các làng đều được tiếp đãi tử tế và nhà nào cũng mời đạo sĩ dùng cơm. Một buổi chiều kia, đạo sĩ đến trước cửa một nhà nọ thì trời vừa nổi một cơn mưa bãọ
Đạo sĩ dừng chân đứng trú mưa ở đấỵ Thì này, chủ nhà nào phải ai xa lạ: chính là ông khách đi săn ngày trước bị ngã lăn xuống hố cùng với con rắn và con quạ vậy!
Người đi săn bèn vội vã mời đạo sĩ vào nhà mình nghỉ chân. Lúc ấy quá Thìn. Mưa đã ngớt. Gió bớt mạnh và sấm không làm dữ nữạ
Anh thợ săn chắp tay trước ngực mà nói với vị chân tu rằng:
- Bẩm Đại đức, xin ngài ban cho chúng tôi một cái ơn: Đại đức nghỉ chơi lại chút nữa để chúng tôi được hầu một bữa cơm dưa muối, chúng tôi lấy làm hân hạnh lắm.
Vị đạo sĩ không chối từ. Anh thợ săn khó nghĩ. Bởi chính bụng anh ta thì anh ta nghĩ thế này: "Xưa kia, mình trót đã hứa với y nếu khi nào y đi qua thì mình sẽ tiếp đãi chu đáo để đền ơn cứu sống. Thì bây giờ đó, y đi quạ Nếu ta không tiếp, y sẽ cho ta là đồ bạc bẽọ Nhưng mà bây giờ mà ngồi tiếp cơm y!...".
Anh thợ săn đã có cách xử rồị Anh gọi vợ xuống bếp và nói nhỏ:
- Tôi nói vừa rồi là nói vậy mà thôị Chứ bây giờ mà thết cơm y thì tốn mà mất thời giờ quá. Âu là mình cứ chậm chậm mà làm. Tôi biết: hễ quá giờ Ngọ thì y không ăn nữạ
Lời nói quả đúng. Giờ Tỵ qua, giờ Ngọ đến, vị đạo sĩ không ăn nữa thật. Ngài cáo từ đi rạ Anh thợ săn và vợ tuy vồn vã nhưng lấy làm sung sướng trong bụng lắm. Vị đạo sĩ thật thà ba bốn lần rập đầu cảm tạ người thợ săn tốt bụng. Ông đi một quãng đường dài mà vẫn không thôi niệm Phật cho vợ chồng anh tạ
Chẳng mấy lúc, ông đã về tới núị Vừa bước chân lên bực, con quạ ở đâu liệng xuống và đậu dưới chân ngài mà lạy:
- Bạch Đại đức, ngài vừa mới ở đâu về?
- Ta đến khuyến giáo và mới ở nhà anh thợ săn rạ
- Vậy chẳng hay anh ta có mời Đại đức thụ trai không?
- Có! Có! Anh ta tốt lắm. Nhưng tiếc vì vợ anh ta làm cơm chậm quá nên ta không đợi được.
Con quạ ấy không rõ tại sao phút chốc bỗng hiểu ngay mọi việc. Nó bèn rằng:
- Đại đức chớ tin. Nó là loài yêu quái đó. Nó không biết lẽ phảị Nó điêu ngoạ Nó không biết trả ơn người cứu sống. Bẩm Đại đức, chúng tôi không có cơm canh hoa quả thết ngài nhưng ngài ngồi đợị Chỉ một lúc, tôi xin quay trở lạị
Vị đạo sĩ chưa kịp nói một lời thì con quạ đã vỗ cánh cao baỵ Nó bay sang một nước láng giềng. Và vào trong cung hoàng hậụ Hoàng hậu đang ngủ một giấc thần tiên trên giường vàng. Bà đeo ở cổ một hạt kim cương sáng ngờị Quạ vỗ cánh đậu bên cạnh và mổ lấy hạt kim cương đó đem về cho đạo sĩ.
Đạo sĩ lấy kim cương làm gì? Có lẽ đó là một vật báu vô giá. Nhưng vô giá với đàn bà. Dùng, đạo sĩ không biết dùng nó làm gì cả. Ngài cho vào bọc và để trong túi chờ một ngày kiạ..
Trong khi ấy thì khắp trong nước người ta xôn xao bàn tán về việc Hoàng hậu mất kim cương. Bà không biết mất bằng cách nàọ Cả nước không ai đoán nổi kẻ gian phi táo tợn đã dùng cách gì lấy được viên kim cương đó. Từ dân đến quan, ai cũng được lệnh đi tìm hạt kim cương. Cả nước mất ăn mất ngủ. Đi đâu người ta cũng thấy yết thị rằng: "Hỡi ai là người tìm được viên kim cương của Hoàng hậu khá đem vào triều mà lĩnh thưởng một ngàn con ngựa, một ngàn con bò, một ngàn cân bạc, một ngàn cân vàng. Ai lưu trữ sẽ bị tru di cả họ".
Một ngày kia, vị đạo sĩ lại xuống đồng bằng khuyến giáọ Cảm cái ân người đi săn đã ở tốt với mình, đạo sĩ lại tìm đến nhà ỵ Và tặng vợ y viên kim cương mà con quạ đã đem biếu ngàị
Tức thì người đi săn giở mặt. Mắt y đỏ sọc lên như những hòn than, miệng y nóng rẫy chẳng khác gì lửa cháy:
- Tên này gớm thật. Mi không biết rằng vật này là vật mất cắp trong cung? Mi là đạo tặc. Ta phải trói để đem nộp quan bây giờ. Nói thế, y làm liền. Y trói vị đạo sĩ như trói lợn. Y chạy bay đến tâu vua và đứng chờ lĩnh thưởng.
Vua bèn phán hỏi đạo sĩ rằng:
- Gã kia, phải khai cho thực. Viên kim cương này ngươi lấy bằng cách nào và lấy ở đâủ
Nói làm saỏ Biết nói làm sao bây giờ? Nếu ta nói thực, chỉ trong giây lát cả loài quạ trong nước đều bị chết. Ta bảo "tôi không lấy" thì vô lý vì viên kim cương rõ ràng tự tay ta đưa cho người đi săn. Còn nếu ta bảo: "Chính tôi lấy đó" lại càng không được. Bởi vì như thế là trái với luân lý kẻ tu hành, trời hỡi!
ở trường hợp khó khăn này, đạo sĩ chỉ ngậm miệng không nói gì là hơn cả. Vua bắt lính đem đạo sĩ ra xử trường. Đạo sĩ không giận ai hết, cứ chắp tay niệm Phật. Vua càng giận tên đạo sĩ gian ngoan. Ngài truyền:
- Quân bay, khá đem lão đạo sĩ yêu ma này ra chôn sống, chỉ để cho cái đầu ló lên thôị Đến giờ Ngọ ngày mai thì giết.
Đạo sĩ, chỉ còn có cái đầu nhô ra khỏi mặt đất, nhìn trời cao xanh một lần cuối và rớt nước mắt rạ Lá cây rung nhè nhẹ. Hơi nước lòa cảnh vật.
phim Ngôi Nhà Không Ngủ Yên
- Dưới gầm trời này, không ai là không khổ! - đạo sĩ kêu lên thế. - Ta đem thân xa lánh chốn phiền ba, tưởng là yên mùi đạọ Nào ngờ lại phải chết một cách thảm khốc như thế này!
Đạo sĩ đã nói đến chữ gầm. Con rắn ở đâu hiện đến. Nó cúi đầu lạy đạo sĩ ba lạy mà rằng:
- Bẩm Đại đức, sao Đại đức lại ra thế nàỷ
Chỉ một phút nó biết hết cả đầu đuôi câu chuyện. Nó khóc mà than:
- Lòng bác ái của Đại đức rộng như trời, sâu như bể. Thế mà còn gặp những tai ương. Vậy không biết thế nhân, lòng thì đục mà đức thì kém không biết còn đau khổ về tinh thần đến như thế nào! Tôi biết ngài có một lòng thương yêu nhân loại mông mênh. Ngài không giận ai hết. Nhưng tôi, tôi chưa đến chỗ cao siêu ấy, tôi phải trả thù mới được. Bây giờ tôi giắt vào khăn ngài gói thuốc nàỵ Mai kia đây, nếu có ai bị rắn cắn ngài lấy thuốc này mà rịt cho người ta, người ta sẽ sống lại và sẽ đền ơn cứu sống.
Nói đoạn, con rắn bò đị Đến tối nó vào cung vua và rình lúc vô ý cắn vào chân hoàng thái tử. Thái tử đau nhức và chỉ một lát toàn thân tím lạị Bao nhiêu ngự y đều chịu không thể nào chữa nổị Nhà vua lại cho rao lên rằng: "Hỡi ai là người biết môn thuốc chữa rắn cắn nào cực hay khá đến chữa cho hoàng thái tử. Thái tử mà khỏi thì nhà vua sẽ chia cho nửa giang sơn và được hưởng sự vinh hoa phú qúy".
Quân đem lời ấy đi rao cùng làng xã. Đạo sĩ bị chôn sống thò đầu ra khỏi mặt đất nghe thấy rao thế bèn rằng:
- Khoan đã! Khoan đã! Bay khá về triều tâu rằng ta có thể chữa được cho hoàng thái tử.
Lập tức vua cho đào đất cho đạo sĩ lên. Đạo sĩ cúi lạy vua và xin phép vào ngay hoàng cung xem bệnh hoàng thái tử. Y lời dặn của con rắn, đạo sĩ lấy gói thuốc của nó đưa mà đem rịt vào chỗ đaụ Hoàng tử như tỉnh một giấc mơ, mở mắt dậy mà hỏi:
- Chao ôi, tôi ở đâu thế nàỷ
- Hoàng tử! Hoàng tử đương sống ở trên dương thế đấy! Đạo sĩ đã chữa lành cho thái tử rồị Thái tử cúi xuống lạy tạ kẻ tái sinh cho mình. Cả nước vui mừng bầy tiệc. Vua cảm động phán với đạo sĩ rằng:
- Ngay chiều nay, ta mời đạo sĩ vào trong cung dự yến. Và ta chia nửa giang sơn cho đạo sĩ. Vàng, bạc, châu, báu, đạo sĩ muốn lấy gì ta cũng đưạ
Đạo sĩ không lấy gì hết. Vàng, bạc, châu, báu mà có lắm chỉ đưa người ta đến sự buồn phiền mà thôị Ngài chỉ xin với vua cho mình sự yên ổn về tinh thần để đi tìm đạo lý trên đỉnh núị Vua ngạc nhiên rồi cảm động mà kết luận rằng:
- Bạch đại đức, đại đức không nhận nửa giang sơn và từ chối cả bạc vàng châu báụ Thế nghĩa là ngài không ham giàụ Vậy thì chắc chắn ngài không lấy hạt kim cương nọ. Có đứa đổ oan cho ngàị Ngài trong sạch, đứa nào đã làm cho ngài mang họa xin nói cho trẫm biết.
Đạo sĩ không thể giấu được nữa rồị Ngài phải đem hết câu chuyện ra thuật lạị Vua thương lắm, ôm lấy đạo sĩ mà nước mắt chan hòa như mưạ
.......
Ngay lúc ấy, anh thợ săn xin vào bệ kiến để chờ lĩnh thưởng. Lĩnh thưởng việc bắt được người đã ăn cắp kim cương. Anh ta hớn hở chờ lịnh thánh.
Vua bèn bảo anh ta rằng:
- Người đã làm một việc tốt, rất vừa lòng trẫm. Ta sẽ hậu thưởng. Nhưng xét ra thưởng một mình người chưa đủ. Người khá về đem cả họ lại đâỵ
Anh thợ săn chạy bay về và dắt cả họ ba đời lạị Anh ta dắt thêm cả một cụ tứ đại đến đề chờ ơn mưa móc. Giữa lúc ấy, vua phán:
- Sự hung ác và lòng bạc bẽo là hai cái tội to lớn hơn hết ở trên đờị Người đã sa vào hai tội ấỵ Quân! Đem tru di cả họ y!
phim Ngôi Nhà Không Ngủ Yên
Đến khi đạo sĩ biết cả họ anh thợ săn bị chết chém thì đã chậm không làm thế nào được nữạ Ngài xin phép ngay bấy giờ được thả để đi lên núi, không bao giờ còn trở lại đồng bằng nữạ
Những sự chém giết, hung ác, và bạc bẽo của người đời nhiều quá đã làm se lòng những kẻ thực yêu đờị
Đạo sĩ, trong một lúc, ngờ rằng người ta không còn phương cách gì để trừ được trong muôn một sự buồn khổ cho nhân loạị
Saturday, June 1, 2013
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo. Quê tôi có bao điều, bao cảnh sắc thiên nhiên đáng nhớ. Từ những con đường làng đất đỏ đến những rặng tre chạy dọc bên bờ sông, tữ những đứa trẻ thơ lớn lên trong vòng tay âu yếm của mẹ đến những hình dáng người bà trên triền đê thương nhớ. Có lẽ bởi từ đó tôi càng thêm thấu hiểu những trang thơ của Đỗ Trung Quân:
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
‘’Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người’’
Qua đó tôi càng them yêu quý quê hương mình hơn, nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi để giờ đây trưởng thành, vẫn không phút nào tôi nguôi nỗi nhớ nhung, yêu mến quê tôi. Một lần nữa, tình cảm ấy lại giấy lên trong long tôi những bồi hồi, lắng sâu khi đọc truyện ngắn Làng của Kim Lân. Nhưng có lẽ ấn tượng để lại trong tôi nhiều rung cảm mạnh mẽ nhất đó chính là nhân vật Ông Hai với một tình yêu quê hương da diết, mãnh liệt.
Bằng sự gắn bso và vốn am hiểu sâu sắc của mình về cuộc sống của người nông dân, nhà văn đã miêu tả một cách chính xác và rất tinh tế diễn biến tâm lí của nhân vật, đồng thời như đưa ta về với hình ảnh của làng quê xưa với những gì mọc mạc, chân thật và bình dị nhất về con người, về cuộc sống giản dị của một thời.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Tình yêu quê hương là tình cảm truyền thống của con người Việt Nam. Với họ, quê hương đã trở thành mảnh tâm hồn gắn bó, ăn sâu vào tiềm thức không thể quên. Người dân Việt đi xa vẫn hướng trái tim mình về quê cha, đất mẹ. Nó đã là máu thịt, là linh hồn và ông Hai cũng không nằm ngoài trong số họ. Tâm trí ông luôn ẩn hiện, ôm trọn hình bóng nơi làng quê., ngôi làng “Chợ Dầu” nhỏ bé mà tinh thần hăng hái, đầy nhiệt huyết cách mạng.
Trước cách mạng, ông Hai khoe làng rất nhiệt tình và hào hứng. Ông luôn mang trong mình niềm tự hào lớn về một ngôi làng giàu đẹp, cái gì cũng nhất vùng. Một ngôi làng như thế khiến ông rất say mê những câu chuyện kể như lời mời gọi tất cả đến thăm, ở đó có “đường làng lát bằng đá xanh, trời mưa gió, đi từ đầu làng đến cuối làng không sợ bùn dính gót chân”, là những nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh”. Bao lời kể của ông như thấm vào tim ta những niềm hứng khởi, như muốn trở về với làng “Chợ Dầu” ngày xưa ấy. Dường như hình ảnh ngôi làng luôn thường trực trong tâm trí của lão nông ấy để khi nói về nơi nuôi dưỡng mình, chốn quê thân thuộc “hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt biến chuyển, hoạt động”. Ông tự hào về làng mình, hãnh diện khi kể về cái “phòng thông tin” tuyên truyền sáng sủa, chiều chiều loa gọi thì cả làng nghe thấy. Độc giả như bị cuốn hút, tò mò về làng ông. Ngôn ngữ vừa mộc mạc, bình dị thể hiện rõ những nét tâm trạng của người nông dân, nhà văn đã cho ta thấy rõ những tình cảm yêu làng da diết của ông Hai. Đặc biệt, khi ông khoe về cái sinh phần của cụ cố Thượng “vườn hoa,cây cảnh nom như động”. Tính khoe làng của ông Hai trong những ngày trước cách mạng thật sôi nổi, háo hức. Nó xuất phát từ niềm kiêu hãnh và lòng tự hào, gắn bó tha thiết về làng quê của ông Hai.
Sau cách mạng, tình cảm ấy càng trở nên sâu đậm hơn. Khi kháng chiến thành công, làng quê cũng có nhiều đổi mới và tình yêu làng của ông Hai cũng phần nào có sự đổi mới quan trọng.
Được sự giác ngộ trong chiến đấu, ông không còn đả động đến cái sinh phần của viên tổng đốc như ngày trước nữa vì đó là cái lăng đã khiến cho nhiều an hem trong làng phải khổ sở phục dịch. Giờ đây, hình ảnh ngôi làng trong tiềm thức của ông đã khác xưa. Ông khoe những điều giản dị mà đầy ý nghĩa. Không khí trong những ngày làm kháng chiến cứ sôi động, thúc giục lòng ông. Phong trào xây dựng làng chiến đấu rất náo nhiệt và sôi nổi. Ông lại nhớ về những ngày “tập quân sự”, những tiếng hô “Nghiêm ạ…”cứ vang lên trong đầu ông, những buổi đào hào, đắp ụ cùng bao an hem đồng chí.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Quê hương, bản quán nơi gắn bó máu thịt của mình làm sao ta có thể quên? Có lẽ bởi thế, tinh thần lão nông rất phấn trấn, kể chuyện về làng ông “ngồi vén quần lên tận bẹn”. Yêu làng, không đành ngồi nhìn kẻ thù giày xéo, xâm lăng, ông đã ra nhập phong trào “từ hồi kì còn bóng tối”. ông tình nguyện, hăng hái ở lại làng, ông hối hả công việc bận rộn tối mặt “công việc như lửa đốt dầu” không thể lên nơi tản cư ngay được. Ông lão say sưa kể chuyện, khoe về những thành tích của làng và thậm chí còn say sưa hơn nữa khi trong đó có cả công lao của mình. Tự hào về khí thế cách mạng sôi động của làng, ông Hai rất hứng khởi, vui sướng, nhiệt tình tham gia và xung phong bảo vệ làng.
Khi bà Hai lên đón ông đến nơi tản cư, ông lão không đi và tự nghĩ “mình sinh sống nơi này từ tấm bé đến giờ…công việc là công việc chung, chứ của riêng mình ai? Ông cho rằng, mình cần ở lại làng, giúp làng làm kháng chiến” cái lúc hữu sự như thế này mình lại bỏ làng đi thì còn ra thế nào nữa”.
Nhưng vì hoàn cảnh, vì vợ con mình, ông đã phải dứt áo ra đi nơi tản cư mặc dù trong lòng vẫn còn nhiều lưu luyến, day dứt, không muốn xa cái làng ấy.
Sống ở nơi xa quê, xa nhà nhưng tâm trí ông Hai, trái tim ông vẫn luôn hướng về quê hương, ngôi làng chợ Dầu “tinh thần sôi nổi”.
Ông Hai suốt ngày chỉ buồn bực, hơi một tí là gắt vì chán cảnh “ăn nhờ ở đậu”. nhưng cũng đành vậy, biết làm thế nào?. Hình ảnh ngôi làng luôn là điểm tựa tâm hồn cho tấm lòng ông. Khi đi làm về mệt, buổi trưa nắng hè oi ả, tưởng chừng như ông vắt tay lên trán và sẽ ngủ tiếp đi nhưng không, ngôi làng Dầu với bao hình ảnh đẹp lại sống dậy trong tâm trí ông. Nhớ về những ngày kháng chiến “đào hào đắp ụ”, lòng ông lại náo nức, chân tay như múa cả lên. Để rồi ông phải bật ra tiếng lòng mình “Ồ! Sao mà độ ấy vui thế?” ta cảm thấy thật đáng trân trọng tình cảm của lão nông tuy già, cao tuổi, nhưng tinh thần vẫn sôi nổi, sục sôi phong trào yêu nước. ông muốn về làng quá, nỗi mong chờ, nhớ nhung luôn thường trực khôn nguôi.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Vì vậy, hang ngày ông thường sang bên gian nhà bác Thứ khoe về làng mình để phần nào vơi đi nỗi nhớ ấy và cugnx là cho sướng cái tai, cho đỡ nhớ. Và như thế, khoe làng đã trở thành một thói quen,một món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của lão nông thuần phác ấy. nhưng ta có thể nhận thấy rằng, đằng sau cái thói quen tưởng chừng như ngớ ngẩn ấy lại là cả một tấm lòng chân thực của ông đối với làng, là cả tình yêu thiêng liêng cao quý và niềm tự hào chân chính của ông Hai.
Với ông Hai cũng như mọi người dân Việt Nam, yêu làng gắn liền với yêu nước, gắn bó với kháng chiến với cụ Hồ. Nơi tản cư xa quê, không được tham gia cách mạng nhưng ông Hai vẫn thường xuyên vào phòng thông tin nghe tình hình, tin tức kháng chiến. Bước vào gian phòng ấy hôm nay, ruột gan ông lão như múa cả lên vì nghe được nhiều tin hay, nóng bỏng. Nào là “em bé trong đội tình nguyện xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cắm cờ”, “đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người bán hang đã bắt được tên quan hai bốt Thao ngay giữa chợ”…rất nhiều tin kháng chiến đáng mừng, đáng khâm phục! người dân Việt trong mưa bom bão đạn đã dũng cảm vượt lên khó khăn.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
phim Sát Thủ So Tài
phim Sát Thủ So Tài
phim Sát Thủ So Tài
Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo. Quê tôi có bao điều, bao cảnh sắc thiên nhiên đáng nhớ. Từ những con đường làng đất đỏ đến những rặng tre chạy dọc bên bờ sông, tữ những đứa trẻ thơ lớn lên trong vòng tay âu yếm của mẹ đến những hình dáng người bà trên triền đê thương nhớ. Có lẽ bởi từ đó tôi càng thêm thấu hiểu những trang thơ của Đỗ Trung Quân:
‘’Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người’’
phim Sát Thủ So Tài
Qua đó tôi càng them yêu quý quê hương mình hơn, nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi để giờ đây trưởng thành, vẫn không phút nào tôi nguôi nỗi nhớ nhung, yêu mến quê tôi. Một lần nữa, tình cảm ấy lại giấy lên trong long tôi những bồi hồi, lắng sâu khi đọc truyện ngắn Làng của Kim Lân. Nhưng có lẽ ấn tượng để lại trong tôi nhiều rung cảm mạnh mẽ nhất đó chính là nhân vật Ông Hai với một tình yêu quê hương da diết, mãnh liệt.
Bằng sự gắn bso và vốn am hiểu sâu sắc của mình về cuộc sống của người nông dân, nhà văn đã miêu tả một cách chính xác và rất tinh tế diễn biến tâm lí của nhân vật, đồng thời như đưa ta về với hình ảnh của làng quê xưa với những gì mọc mạc, chân thật và bình dị nhất về con người, về cuộc sống giản dị của một thời.
Tình yêu quê hương là tình cảm truyền thống của con người Việt Nam. Với họ, quê hương đã trở thành mảnh tâm hồn gắn bó, ăn sâu vào tiềm thức không thể quên. Người dân Việt đi xa vẫn hướng trái tim mình về quê cha, đất mẹ. Nó đã là máu thịt, là linh hồn và ông Hai cũng không nằm ngoài trong số họ. Tâm trí ông luôn ẩn hiện, ôm trọn hình bóng nơi làng quê., ngôi làng “Chợ Dầu” nhỏ bé mà tinh thần hăng hái, đầy nhiệt huyết cách mạng.
phim Sát Thủ So Tài
Trước cách mạng, ông Hai khoe làng rất nhiệt tình và hào hứng. Ông luôn mang trong mình niềm tự hào lớn về một ngôi làng giàu đẹp, cái gì cũng nhất vùng. Một ngôi làng như thế khiến ông rất say mê những câu chuyện kể như lời mời gọi tất cả đến thăm, ở đó có “đường làng lát bằng đá xanh, trời mưa gió, đi từ đầu làng đến cuối làng không sợ bùn dính gót chân”, là những nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh”. Bao lời kể của ông như thấm vào tim ta những niềm hứng khởi, như muốn trở về với làng “Chợ Dầu” ngày xưa ấy. Dường như hình ảnh ngôi làng luôn thường trực trong tâm trí của lão nông ấy để khi nói về nơi nuôi dưỡng mình, chốn quê thân thuộc “hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt biến chuyển, hoạt động”. Ông tự hào về làng mình, hãnh diện khi kể về cái “phòng thông tin” tuyên truyền sáng sủa, chiều chiều loa gọi thì cả làng nghe thấy. Độc giả như bị cuốn hút, tò mò về làng ông. Ngôn ngữ vừa mộc mạc, bình dị thể hiện rõ những nét tâm trạng của người nông dân, nhà văn đã cho ta thấy rõ những tình cảm yêu làng da diết của ông Hai. Đặc biệt, khi ông khoe về cái sinh phần của cụ cố Thượng “vườn hoa,cây cảnh nom như động”. Tính khoe làng của ông Hai trong những ngày trước cách mạng thật sôi nổi, háo hức. Nó xuất phát từ niềm kiêu hãnh và lòng tự hào, gắn bó tha thiết về làng quê của ông Hai.
phim Sát Thủ So Tài
Sau cách mạng, tình cảm ấy càng trở nên sâu đậm hơn. Khi kháng chiến thành công, làng quê cũng có nhiều đổi mới và tình yêu làng của ông Hai cũng phần nào có sự đổi mới quan trọng.
Được sự giác ngộ trong chiến đấu, ông không còn đả động đến cái sinh phần của viên tổng đốc như ngày trước nữa vì đó là cái lăng đã khiến cho nhiều an hem trong làng phải khổ sở phục dịch. Giờ đây, hình ảnh ngôi làng trong tiềm thức của ông đã khác xưa. Ông khoe những điều giản dị mà đầy ý nghĩa. Không khí trong những ngày làm kháng chiến cứ sôi động, thúc giục lòng ông. Phong trào xây dựng làng chiến đấu rất náo nhiệt và sôi nổi. Ông lại nhớ về những ngày “tập quân sự”, những tiếng hô “Nghiêm ạ…”cứ vang lên trong đầu ông, những buổi đào hào, đắp ụ cùng bao an hem đồng chí.
Quê hương, bản quán nơi gắn bó máu thịt của mình làm sao ta có thể quên? Có lẽ bởi thế, tinh thần lão nông rất phấn trấn, kể chuyện về làng ông “ngồi vén quần lên tận bẹn”. Yêu làng, không đành ngồi nhìn kẻ thù giày xéo, xâm lăng, ông đã ra nhập phong trào “từ hồi kì còn bóng tối”. ông tình nguyện, hăng hái ở lại làng, ông hối hả công việc bận rộn tối mặt “công việc như lửa đốt dầu” không thể lên nơi tản cư ngay được. Ông lão say sưa kể chuyện, khoe về những thành tích của làng và thậm chí còn say sưa hơn nữa khi trong đó có cả công lao của mình. Tự hào về khí thế cách mạng sôi động của làng, ông Hai rất hứng khởi, vui sướng, nhiệt tình tham gia và xung phong bảo vệ làng.
phim Sát Thủ So Tài
Khi bà Hai lên đón ông đến nơi tản cư, ông lão không đi và tự nghĩ “mình sinh sống nơi này từ tấm bé đến giờ…công việc là công việc chung, chứ của riêng mình ai? Ông cho rằng, mình cần ở lại làng, giúp làng làm kháng chiến” cái lúc hữu sự như thế này mình lại bỏ làng đi thì còn ra thế nào nữa”.
Nhưng vì hoàn cảnh, vì vợ con mình, ông đã phải dứt áo ra đi nơi tản cư mặc dù trong lòng vẫn còn nhiều lưu luyến, day dứt, không muốn xa cái làng ấy.
Sống ở nơi xa quê, xa nhà nhưng tâm trí ông Hai, trái tim ông vẫn luôn hướng về quê hương, ngôi làng chợ Dầu “tinh thần sôi nổi”.
Ông Hai suốt ngày chỉ buồn bực, hơi một tí là gắt vì chán cảnh “ăn nhờ ở đậu”. nhưng cũng đành vậy, biết làm thế nào?. Hình ảnh ngôi làng luôn là điểm tựa tâm hồn cho tấm lòng ông. Khi đi làm về mệt, buổi trưa nắng hè oi ả, tưởng chừng như ông vắt tay lên trán và sẽ ngủ tiếp đi nhưng không, ngôi làng Dầu với bao hình ảnh đẹp lại sống dậy trong tâm trí ông. Nhớ về những ngày kháng chiến “đào hào đắp ụ”, lòng ông lại náo nức, chân tay như múa cả lên. Để rồi ông phải bật ra tiếng lòng mình “Ồ! Sao mà độ ấy vui thế?” ta cảm thấy thật đáng trân trọng tình cảm của lão nông tuy già, cao tuổi, nhưng tinh thần vẫn sôi nổi, sục sôi phong trào yêu nước. ông muốn về làng quá, nỗi mong chờ, nhớ nhung luôn thường trực khôn nguôi.
phim Sát Thủ So Tài
Vì vậy, hang ngày ông thường sang bên gian nhà bác Thứ khoe về làng mình để phần nào vơi đi nỗi nhớ ấy và cugnx là cho sướng cái tai, cho đỡ nhớ. Và như thế, khoe làng đã trở thành một thói quen,một món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của lão nông thuần phác ấy. nhưng ta có thể nhận thấy rằng, đằng sau cái thói quen tưởng chừng như ngớ ngẩn ấy lại là cả một tấm lòng chân thực của ông đối với làng, là cả tình yêu thiêng liêng cao quý và niềm tự hào chân chính của ông Hai.
Với ông Hai cũng như mọi người dân Việt Nam, yêu làng gắn liền với yêu nước, gắn bó với kháng chiến với cụ Hồ. Nơi tản cư xa quê, không được tham gia cách mạng nhưng ông Hai vẫn thường xuyên vào phòng thông tin nghe tình hình, tin tức kháng chiến. Bước vào gian phòng ấy hôm nay, ruột gan ông lão như múa cả lên vì nghe được nhiều tin hay, nóng bỏng. Nào là “em bé trong đội tình nguyện xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cắm cờ”, “đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người bán hang đã bắt được tên quan hai bốt Thao ngay giữa chợ”…rất nhiều tin kháng chiến đáng mừng, đáng khâm phục! người dân Việt trong mưa bom bão đạn đã dũng cảm vượt lên khó khăn.
phim Sát Thủ So Tài
Khi nghe tin của đám người tản cư mới lên là làng Chợ Dầu theo giặc, ông Hai đã vô cùng sửng sốt, thất vọng. Ông như không còn tin vào chính mình nữa vậy. Từ đó, đã ba, bốn ngày ông không dám bước chân ra khỏi nhà, chỉ dám lẳng lặng nghe ngóng binh tình lên ngoài ra sao? Hẳn phải là một con người giàu lòng tự trọng, ông Hai mới có những biểu hiện như vậy. Mặc dù không ai biết rằng ông là người làng chợ Dầu lên ngoài mấy người sống cạnh nhà ông nhưng ông lão vẫn rất hỏ thẹn, vì yêu làng nên khi được tin dữ ấy,ông Hai đã trằn trọc không ngủ yên. Cái tin ấy đã trở thành nỗi ám ảnh day dứt lớn. Nhìn lũ trẻ con mà ông thấy thương “chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Nước mắt ông lão cứ trào ra rồi ông rít lên trong nỗi đau khổ, uất ức vì nhục “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước nhục nhã thế này?
Ông hai đã từng nhớ làng chợ Dầu đến da diết, từng ao ước trở về làng mãnh liệt nhưng bây giwof, ông thực sự thất vọng về ngôi làng ấy. ông đã xác định được, về làng tức là chịu quay đầu làm nô lệ cho Tây, về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hộ. Ông nói “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù”. Như vậy, tình yêu làng đã thống nhất, bao trùm lên tình yêu đất nước. Lúc này, yêu làng nhất là phải bỏ làng, ông chỉ yêu làng khi làng làm kháng chiến theo cụ Hồ.
Dù đã xác định như vậy nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ cái tình đối với ngôi lang, trong cái bế tắc và sự than khổ tủi nhục, ông chỉ còn biết giãi bày tâm sự với thằng Húc con ông để chứng minh cho tấm lòng trong sạch của mình.
Ông hỏi đứa con ngây thơ của mình “thế nhà con ở đâu? Con có thích về làng không?” Lời nói cất lên mà nghẹn ngào, nhuốm vị đắng cay, tủi hổ. Mặc dù ngôi làng theo tây rồi nhưng ông vẫn muốn nhắc con phải nhớ về cội nguồn, quê cha đất tổ của mình: “…nhà ta ở làng Chợ Dầu”.
phim Sát Thủ So TàiNước mắt ông lão giàn ra chảy ròng ròng trên 2 má, ông nói thủ thỉ: “thế con ủng hộ ai?”…Ủng hộ cụ Hồ con nhỉ? Ông nhắc con phải noi gương cụ Hồ Chí Minh thể hiện tấm lòng thủy chung với kháng chiến, với cách mạng, Ông lão nói nhue để ngỏ lòng mình, minh oan cho mình “cụ Hồ trên đầu trên cổ soi cho bố con ông”/
Những lời tâm sự với đứa con thực chất là lời tự nhủ với lòng mình, tự giãi bày nỗi lòng mình. Qua đó cho thấy tình yêu sâu nặng của ông đối với ngôi làng, thật sâu xa bền vững và đáng trân trọng biết bao!
Ngay khi nghe tin làng cải chính, cả ngôi làng chợ Dầu ấy không theo Việt gian mà đã tham gia chiến đấu rất anh dũng thì với một người yêu làng như ông Hai hẳn là không khỏi vui sướng vô hạn “cái mặt ông bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên, mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ hấp háy” và ông còn chia quà cho các con. Dường như lúc này, tính khoe làng lại bừng cháy trong lòng ông, vẫn cái dáng điệu quen thuộc ngày nào, ông lật đật đi thẳng sang bên gian bác Thứ, chưa đến bậc cửa ông đã vội báo ngay “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ- Đốt nhẵn”, rồi lại đi tiếp khoe với ông chủ nhà, mọi người tin đó.
phim Sát Thủ So Tài
Có thể nói nhà văn Kim Lân đã rất thành công khi xây dựng được tình huống đi ngược với tâm lí người thường. nhưng đặt nhân vật vòa trường hợp ấy, nhà văn có dụng ý muốn thể hiện tình cảm yêu làng đến mãnh liệt của người nông dân thuần phác như ông Hai.
Nhà ông bị đốt nhẵn nhưng ta không thấy điều gì lưỡng lự trong lời nói ấy mà ông cứ múa cả chân tay lên mà khoe với mọi người. cái tin ấy như có phép hồi sinh khiên ông vui sướng hả hê. Bởi đó là một bằng chứng hùng hồn chứng minh rằng ông không phải là dân làng Việt gian, làng Dầu vẫn là làng kháng chiến. Cái tin ấy đã giúp ông rũ bỏ mọi bế tắc tủi nhục. Ngôi nhà ruộng vườn là tài sản quý giá tích cóp từ bao đời mới tạo dựng lên được nay bị đốt sạch mà ông vẫn thấy vui bởi lẽ, nhà ông không còn nhưng thay vào đó là danh dự của làng được bảo toàn, trong sự cháy rụi của nhà ông, làng ông lại là một sự hồi sinh của làng Dầu khác, là cái làng ông đã từng yêu, cái làng đã từng anh dũng, kiên cường theo cách mạng rất đáng tự hào. Niềm vui ấy thể hiện tấm lòng yêu nước sẵn sang hi sinh tất cả cho kháng chiến. Quả là niềm vui của ông Hai chất phác, vô tư và ngời sáng lòng yêu nước cao cả.
phim Sát Thủ So Tài
Và như thế trang truyện khép lại nhưng vẫn luôn để lại trong ta những dư âm sâu sắc về một tình yêu làng da diết như ông Hai. Tình yêu làng thắm thiết ấy đã thống nhất với tình yêu nước, yêu kháng chiến. Với nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật và cách xây dựng tình huống độc đáo, Kim Lân đã khắc họa thành công hình ảnh ông Hai là biểu tượng của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Họ đã có những nhận thức đúng đắn hơn khi được ánh sáng cách mạng soi đường. Họ là những người đem xương máu đánh giặc “giữ làng giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” và luôn sẵn sàng hi sinh những gì quý giá nhất cho cuộc đời, cho cách mạng, cho kháng chiến.
phim Sát Thủ So Tài
Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo. Quê tôi có bao điều, bao cảnh sắc thiên nhiên đáng nhớ. Từ những con đường làng đất đỏ đến những rặng tre chạy dọc bên bờ sông, tữ những đứa trẻ thơ lớn lên trong vòng tay âu yếm của mẹ đến những hình dáng người bà trên triền đê thương nhớ. Có lẽ bởi từ đó tôi càng thêm thấu hiểu những trang thơ của Đỗ Trung Quân:
‘’Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người’’
phim Sát Thủ So Tài
Qua đó tôi càng them yêu quý quê hương mình hơn, nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi để giờ đây trưởng thành, vẫn không phút nào tôi nguôi nỗi nhớ nhung, yêu mến quê tôi. Một lần nữa, tình cảm ấy lại giấy lên trong long tôi những bồi hồi, lắng sâu khi đọc truyện ngắn Làng của Kim Lân. Nhưng có lẽ ấn tượng để lại trong tôi nhiều rung cảm mạnh mẽ nhất đó chính là nhân vật Ông Hai với một tình yêu quê hương da diết, mãnh liệt.
Bằng sự gắn bso và vốn am hiểu sâu sắc của mình về cuộc sống của người nông dân, nhà văn đã miêu tả một cách chính xác và rất tinh tế diễn biến tâm lí của nhân vật, đồng thời như đưa ta về với hình ảnh của làng quê xưa với những gì mọc mạc, chân thật và bình dị nhất về con người, về cuộc sống giản dị của một thời.
Tình yêu quê hương là tình cảm truyền thống của con người Việt Nam. Với họ, quê hương đã trở thành mảnh tâm hồn gắn bó, ăn sâu vào tiềm thức không thể quên. Người dân Việt đi xa vẫn hướng trái tim mình về quê cha, đất mẹ. Nó đã là máu thịt, là linh hồn và ông Hai cũng không nằm ngoài trong số họ. Tâm trí ông luôn ẩn hiện, ôm trọn hình bóng nơi làng quê., ngôi làng “Chợ Dầu” nhỏ bé mà tinh thần hăng hái, đầy nhiệt huyết cách mạng.
phim Sát Thủ So Tài
Trước cách mạng, ông Hai khoe làng rất nhiệt tình và hào hứng. Ông luôn mang trong mình niềm tự hào lớn về một ngôi làng giàu đẹp, cái gì cũng nhất vùng. Một ngôi làng như thế khiến ông rất say mê những câu chuyện kể như lời mời gọi tất cả đến thăm, ở đó có “đường làng lát bằng đá xanh, trời mưa gió, đi từ đầu làng đến cuối làng không sợ bùn dính gót chân”, là những nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh”. Bao lời kể của ông như thấm vào tim ta những niềm hứng khởi, như muốn trở về với làng “Chợ Dầu” ngày xưa ấy. Dường như hình ảnh ngôi làng luôn thường trực trong tâm trí của lão nông ấy để khi nói về nơi nuôi dưỡng mình, chốn quê thân thuộc “hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt biến chuyển, hoạt động”. Ông tự hào về làng mình, hãnh diện khi kể về cái “phòng thông tin” tuyên truyền sáng sủa, chiều chiều loa gọi thì cả làng nghe thấy. Độc giả như bị cuốn hút, tò mò về làng ông. Ngôn ngữ vừa mộc mạc, bình dị thể hiện rõ những nét tâm trạng của người nông dân, nhà văn đã cho ta thấy rõ những tình cảm yêu làng da diết của ông Hai. Đặc biệt, khi ông khoe về cái sinh phần của cụ cố Thượng “vườn hoa,cây cảnh nom như động”. Tính khoe làng của ông Hai trong những ngày trước cách mạng thật sôi nổi, háo hức. Nó xuất phát từ niềm kiêu hãnh và lòng tự hào, gắn bó tha thiết về làng quê của ông Hai.
phim Sát Thủ So Tài
Sau cách mạng, tình cảm ấy càng trở nên sâu đậm hơn. Khi kháng chiến thành công, làng quê cũng có nhiều đổi mới và tình yêu làng của ông Hai cũng phần nào có sự đổi mới quan trọng.
Được sự giác ngộ trong chiến đấu, ông không còn đả động đến cái sinh phần của viên tổng đốc như ngày trước nữa vì đó là cái lăng đã khiến cho nhiều an hem trong làng phải khổ sở phục dịch. Giờ đây, hình ảnh ngôi làng trong tiềm thức của ông đã khác xưa. Ông khoe những điều giản dị mà đầy ý nghĩa. Không khí trong những ngày làm kháng chiến cứ sôi động, thúc giục lòng ông. Phong trào xây dựng làng chiến đấu rất náo nhiệt và sôi nổi. Ông lại nhớ về những ngày “tập quân sự”, những tiếng hô “Nghiêm ạ…”cứ vang lên trong đầu ông, những buổi đào hào, đắp ụ cùng bao an hem đồng chí.
Quê hương, bản quán nơi gắn bó máu thịt của mình làm sao ta có thể quên? Có lẽ bởi thế, tinh thần lão nông rất phấn trấn, kể chuyện về làng ông “ngồi vén quần lên tận bẹn”. Yêu làng, không đành ngồi nhìn kẻ thù giày xéo, xâm lăng, ông đã ra nhập phong trào “từ hồi kì còn bóng tối”. ông tình nguyện, hăng hái ở lại làng, ông hối hả công việc bận rộn tối mặt “công việc như lửa đốt dầu” không thể lên nơi tản cư ngay được. Ông lão say sưa kể chuyện, khoe về những thành tích của làng và thậm chí còn say sưa hơn nữa khi trong đó có cả công lao của mình. Tự hào về khí thế cách mạng sôi động của làng, ông Hai rất hứng khởi, vui sướng, nhiệt tình tham gia và xung phong bảo vệ làng.
phim Sát Thủ So Tài
Khi bà Hai lên đón ông đến nơi tản cư, ông lão không đi và tự nghĩ “mình sinh sống nơi này từ tấm bé đến giờ…công việc là công việc chung, chứ của riêng mình ai? Ông cho rằng, mình cần ở lại làng, giúp làng làm kháng chiến” cái lúc hữu sự như thế này mình lại bỏ làng đi thì còn ra thế nào nữa”.
Nhưng vì hoàn cảnh, vì vợ con mình, ông đã phải dứt áo ra đi nơi tản cư mặc dù trong lòng vẫn còn nhiều lưu luyến, day dứt, không muốn xa cái làng ấy.
Sống ở nơi xa quê, xa nhà nhưng tâm trí ông Hai, trái tim ông vẫn luôn hướng về quê hương, ngôi làng chợ Dầu “tinh thần sôi nổi”.
Ông Hai suốt ngày chỉ buồn bực, hơi một tí là gắt vì chán cảnh “ăn nhờ ở đậu”. nhưng cũng đành vậy, biết làm thế nào?. Hình ảnh ngôi làng luôn là điểm tựa tâm hồn cho tấm lòng ông. Khi đi làm về mệt, buổi trưa nắng hè oi ả, tưởng chừng như ông vắt tay lên trán và sẽ ngủ tiếp đi nhưng không, ngôi làng Dầu với bao hình ảnh đẹp lại sống dậy trong tâm trí ông. Nhớ về những ngày kháng chiến “đào hào đắp ụ”, lòng ông lại náo nức, chân tay như múa cả lên. Để rồi ông phải bật ra tiếng lòng mình “Ồ! Sao mà độ ấy vui thế?” ta cảm thấy thật đáng trân trọng tình cảm của lão nông tuy già, cao tuổi, nhưng tinh thần vẫn sôi nổi, sục sôi phong trào yêu nước. ông muốn về làng quá, nỗi mong chờ, nhớ nhung luôn thường trực khôn nguôi.
phim Sát Thủ So Tài
Vì vậy, hang ngày ông thường sang bên gian nhà bác Thứ khoe về làng mình để phần nào vơi đi nỗi nhớ ấy và cugnx là cho sướng cái tai, cho đỡ nhớ. Và như thế, khoe làng đã trở thành một thói quen,một món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của lão nông thuần phác ấy. nhưng ta có thể nhận thấy rằng, đằng sau cái thói quen tưởng chừng như ngớ ngẩn ấy lại là cả một tấm lòng chân thực của ông đối với làng, là cả tình yêu thiêng liêng cao quý và niềm tự hào chân chính của ông Hai.
Với ông Hai cũng như mọi người dân Việt Nam, yêu làng gắn liền với yêu nước, gắn bó với kháng chiến với cụ Hồ. Nơi tản cư xa quê, không được tham gia cách mạng nhưng ông Hai vẫn thường xuyên vào phòng thông tin nghe tình hình, tin tức kháng chiến. Bước vào gian phòng ấy hôm nay, ruột gan ông lão như múa cả lên vì nghe được nhiều tin hay, nóng bỏng. Nào là “em bé trong đội tình nguyện xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cắm cờ”, “đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người bán hang đã bắt được tên quan hai bốt Thao ngay giữa chợ”…rất nhiều tin kháng chiến đáng mừng, đáng khâm phục! người dân Việt trong mưa bom bão đạn đã dũng cảm vượt lên khó khăn.
phim Sát Thủ So Tài
Khi nghe tin của đám người tản cư mới lên là làng Chợ Dầu theo giặc, ông Hai đã vô cùng sửng sốt, thất vọng. Ông như không còn tin vào chính mình nữa vậy. Từ đó, đã ba, bốn ngày ông không dám bước chân ra khỏi nhà, chỉ dám lẳng lặng nghe ngóng binh tình lên ngoài ra sao? Hẳn phải là một con người giàu lòng tự trọng, ông Hai mới có những biểu hiện như vậy. Mặc dù không ai biết rằng ông là người làng chợ Dầu lên ngoài mấy người sống cạnh nhà ông nhưng ông lão vẫn rất hỏ thẹn, vì yêu làng nên khi được tin dữ ấy,ông Hai đã trằn trọc không ngủ yên. Cái tin ấy đã trở thành nỗi ám ảnh day dứt lớn. Nhìn lũ trẻ con mà ông thấy thương “chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Nước mắt ông lão cứ trào ra rồi ông rít lên trong nỗi đau khổ, uất ức vì nhục “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước nhục nhã thế này?
Ông hai đã từng nhớ làng chợ Dầu đến da diết, từng ao ước trở về làng mãnh liệt nhưng bây giwof, ông thực sự thất vọng về ngôi làng ấy. ông đã xác định được, về làng tức là chịu quay đầu làm nô lệ cho Tây, về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hộ. Ông nói “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù”. Như vậy, tình yêu làng đã thống nhất, bao trùm lên tình yêu đất nước. Lúc này, yêu làng nhất là phải bỏ làng, ông chỉ yêu làng khi làng làm kháng chiến theo cụ Hồ.
Dù đã xác định như vậy nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ cái tình đối với ngôi lang, trong cái bế tắc và sự than khổ tủi nhục, ông chỉ còn biết giãi bày tâm sự với thằng Húc con ông để chứng minh cho tấm lòng trong sạch của mình.
Ông hỏi đứa con ngây thơ của mình “thế nhà con ở đâu? Con có thích về làng không?” Lời nói cất lên mà nghẹn ngào, nhuốm vị đắng cay, tủi hổ. Mặc dù ngôi làng theo tây rồi nhưng ông vẫn muốn nhắc con phải nhớ về cội nguồn, quê cha đất tổ của mình: “…nhà ta ở làng Chợ Dầu”.
phim Sát Thủ So TàiNước mắt ông lão giàn ra chảy ròng ròng trên 2 má, ông nói thủ thỉ: “thế con ủng hộ ai?”…Ủng hộ cụ Hồ con nhỉ? Ông nhắc con phải noi gương cụ Hồ Chí Minh thể hiện tấm lòng thủy chung với kháng chiến, với cách mạng, Ông lão nói nhue để ngỏ lòng mình, minh oan cho mình “cụ Hồ trên đầu trên cổ soi cho bố con ông”/
Những lời tâm sự với đứa con thực chất là lời tự nhủ với lòng mình, tự giãi bày nỗi lòng mình. Qua đó cho thấy tình yêu sâu nặng của ông đối với ngôi làng, thật sâu xa bền vững và đáng trân trọng biết bao!
Ngay khi nghe tin làng cải chính, cả ngôi làng chợ Dầu ấy không theo Việt gian mà đã tham gia chiến đấu rất anh dũng thì với một người yêu làng như ông Hai hẳn là không khỏi vui sướng vô hạn “cái mặt ông bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên, mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ hấp háy” và ông còn chia quà cho các con. Dường như lúc này, tính khoe làng lại bừng cháy trong lòng ông, vẫn cái dáng điệu quen thuộc ngày nào, ông lật đật đi thẳng sang bên gian bác Thứ, chưa đến bậc cửa ông đã vội báo ngay “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ- Đốt nhẵn”, rồi lại đi tiếp khoe với ông chủ nhà, mọi người tin đó.
phim Sát Thủ So Tài
Có thể nói nhà văn Kim Lân đã rất thành công khi xây dựng được tình huống đi ngược với tâm lí người thường. nhưng đặt nhân vật vòa trường hợp ấy, nhà văn có dụng ý muốn thể hiện tình cảm yêu làng đến mãnh liệt của người nông dân thuần phác như ông Hai.
Nhà ông bị đốt nhẵn nhưng ta không thấy điều gì lưỡng lự trong lời nói ấy mà ông cứ múa cả chân tay lên mà khoe với mọi người. cái tin ấy như có phép hồi sinh khiên ông vui sướng hả hê. Bởi đó là một bằng chứng hùng hồn chứng minh rằng ông không phải là dân làng Việt gian, làng Dầu vẫn là làng kháng chiến. Cái tin ấy đã giúp ông rũ bỏ mọi bế tắc tủi nhục. Ngôi nhà ruộng vườn là tài sản quý giá tích cóp từ bao đời mới tạo dựng lên được nay bị đốt sạch mà ông vẫn thấy vui bởi lẽ, nhà ông không còn nhưng thay vào đó là danh dự của làng được bảo toàn, trong sự cháy rụi của nhà ông, làng ông lại là một sự hồi sinh của làng Dầu khác, là cái làng ông đã từng yêu, cái làng đã từng anh dũng, kiên cường theo cách mạng rất đáng tự hào. Niềm vui ấy thể hiện tấm lòng yêu nước sẵn sang hi sinh tất cả cho kháng chiến. Quả là niềm vui của ông Hai chất phác, vô tư và ngời sáng lòng yêu nước cao cả.
phim Sát Thủ So Tài
Và như thế trang truyện khép lại nhưng vẫn luôn để lại trong ta những dư âm sâu sắc về một tình yêu làng da diết như ông Hai. Tình yêu làng thắm thiết ấy đã thống nhất với tình yêu nước, yêu kháng chiến. Với nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật và cách xây dựng tình huống độc đáo, Kim Lân đã khắc họa thành công hình ảnh ông Hai là biểu tượng của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Họ đã có những nhận thức đúng đắn hơn khi được ánh sáng cách mạng soi đường. Họ là những người đem xương máu đánh giặc “giữ làng giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” và luôn sẵn sàng hi sinh những gì quý giá nhất cho cuộc đời, cho cách mạng, cho kháng chiến.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo. Quê tôi có bao điều, bao cảnh sắc thiên nhiên đáng nhớ. Từ những con đường làng đất đỏ đến những rặng tre chạy dọc bên bờ sông, tữ những đứa trẻ thơ lớn lên trong vòng tay âu yếm của mẹ đến những hình dáng người bà trên triền đê thương nhớ. Có lẽ bởi từ đó tôi càng thêm thấu hiểu những trang thơ của Đỗ Trung Quân:
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
‘’Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người’’
Qua đó tôi càng them yêu quý quê hương mình hơn, nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi để giờ đây trưởng thành, vẫn không phút nào tôi nguôi nỗi nhớ nhung, yêu mến quê tôi. Một lần nữa, tình cảm ấy lại giấy lên trong long tôi những bồi hồi, lắng sâu khi đọc truyện ngắn Làng của Kim Lân. Nhưng có lẽ ấn tượng để lại trong tôi nhiều rung cảm mạnh mẽ nhất đó chính là nhân vật Ông Hai với một tình yêu quê hương da diết, mãnh liệt.
Bằng sự gắn bso và vốn am hiểu sâu sắc của mình về cuộc sống của người nông dân, nhà văn đã miêu tả một cách chính xác và rất tinh tế diễn biến tâm lí của nhân vật, đồng thời như đưa ta về với hình ảnh của làng quê xưa với những gì mọc mạc, chân thật và bình dị nhất về con người, về cuộc sống giản dị của một thời.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Tình yêu quê hương là tình cảm truyền thống của con người Việt Nam. Với họ, quê hương đã trở thành mảnh tâm hồn gắn bó, ăn sâu vào tiềm thức không thể quên. Người dân Việt đi xa vẫn hướng trái tim mình về quê cha, đất mẹ. Nó đã là máu thịt, là linh hồn và ông Hai cũng không nằm ngoài trong số họ. Tâm trí ông luôn ẩn hiện, ôm trọn hình bóng nơi làng quê., ngôi làng “Chợ Dầu” nhỏ bé mà tinh thần hăng hái, đầy nhiệt huyết cách mạng.
Trước cách mạng, ông Hai khoe làng rất nhiệt tình và hào hứng. Ông luôn mang trong mình niềm tự hào lớn về một ngôi làng giàu đẹp, cái gì cũng nhất vùng. Một ngôi làng như thế khiến ông rất say mê những câu chuyện kể như lời mời gọi tất cả đến thăm, ở đó có “đường làng lát bằng đá xanh, trời mưa gió, đi từ đầu làng đến cuối làng không sợ bùn dính gót chân”, là những nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh”. Bao lời kể của ông như thấm vào tim ta những niềm hứng khởi, như muốn trở về với làng “Chợ Dầu” ngày xưa ấy. Dường như hình ảnh ngôi làng luôn thường trực trong tâm trí của lão nông ấy để khi nói về nơi nuôi dưỡng mình, chốn quê thân thuộc “hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt biến chuyển, hoạt động”. Ông tự hào về làng mình, hãnh diện khi kể về cái “phòng thông tin” tuyên truyền sáng sủa, chiều chiều loa gọi thì cả làng nghe thấy. Độc giả như bị cuốn hút, tò mò về làng ông. Ngôn ngữ vừa mộc mạc, bình dị thể hiện rõ những nét tâm trạng của người nông dân, nhà văn đã cho ta thấy rõ những tình cảm yêu làng da diết của ông Hai. Đặc biệt, khi ông khoe về cái sinh phần của cụ cố Thượng “vườn hoa,cây cảnh nom như động”. Tính khoe làng của ông Hai trong những ngày trước cách mạng thật sôi nổi, háo hức. Nó xuất phát từ niềm kiêu hãnh và lòng tự hào, gắn bó tha thiết về làng quê của ông Hai.
Sau cách mạng, tình cảm ấy càng trở nên sâu đậm hơn. Khi kháng chiến thành công, làng quê cũng có nhiều đổi mới và tình yêu làng của ông Hai cũng phần nào có sự đổi mới quan trọng.
Được sự giác ngộ trong chiến đấu, ông không còn đả động đến cái sinh phần của viên tổng đốc như ngày trước nữa vì đó là cái lăng đã khiến cho nhiều an hem trong làng phải khổ sở phục dịch. Giờ đây, hình ảnh ngôi làng trong tiềm thức của ông đã khác xưa. Ông khoe những điều giản dị mà đầy ý nghĩa. Không khí trong những ngày làm kháng chiến cứ sôi động, thúc giục lòng ông. Phong trào xây dựng làng chiến đấu rất náo nhiệt và sôi nổi. Ông lại nhớ về những ngày “tập quân sự”, những tiếng hô “Nghiêm ạ…”cứ vang lên trong đầu ông, những buổi đào hào, đắp ụ cùng bao an hem đồng chí.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Quê hương, bản quán nơi gắn bó máu thịt của mình làm sao ta có thể quên? Có lẽ bởi thế, tinh thần lão nông rất phấn trấn, kể chuyện về làng ông “ngồi vén quần lên tận bẹn”. Yêu làng, không đành ngồi nhìn kẻ thù giày xéo, xâm lăng, ông đã ra nhập phong trào “từ hồi kì còn bóng tối”. ông tình nguyện, hăng hái ở lại làng, ông hối hả công việc bận rộn tối mặt “công việc như lửa đốt dầu” không thể lên nơi tản cư ngay được. Ông lão say sưa kể chuyện, khoe về những thành tích của làng và thậm chí còn say sưa hơn nữa khi trong đó có cả công lao của mình. Tự hào về khí thế cách mạng sôi động của làng, ông Hai rất hứng khởi, vui sướng, nhiệt tình tham gia và xung phong bảo vệ làng.
Khi bà Hai lên đón ông đến nơi tản cư, ông lão không đi và tự nghĩ “mình sinh sống nơi này từ tấm bé đến giờ…công việc là công việc chung, chứ của riêng mình ai? Ông cho rằng, mình cần ở lại làng, giúp làng làm kháng chiến” cái lúc hữu sự như thế này mình lại bỏ làng đi thì còn ra thế nào nữa”.
Nhưng vì hoàn cảnh, vì vợ con mình, ông đã phải dứt áo ra đi nơi tản cư mặc dù trong lòng vẫn còn nhiều lưu luyến, day dứt, không muốn xa cái làng ấy.
Sống ở nơi xa quê, xa nhà nhưng tâm trí ông Hai, trái tim ông vẫn luôn hướng về quê hương, ngôi làng chợ Dầu “tinh thần sôi nổi”.
Ông Hai suốt ngày chỉ buồn bực, hơi một tí là gắt vì chán cảnh “ăn nhờ ở đậu”. nhưng cũng đành vậy, biết làm thế nào?. Hình ảnh ngôi làng luôn là điểm tựa tâm hồn cho tấm lòng ông. Khi đi làm về mệt, buổi trưa nắng hè oi ả, tưởng chừng như ông vắt tay lên trán và sẽ ngủ tiếp đi nhưng không, ngôi làng Dầu với bao hình ảnh đẹp lại sống dậy trong tâm trí ông. Nhớ về những ngày kháng chiến “đào hào đắp ụ”, lòng ông lại náo nức, chân tay như múa cả lên. Để rồi ông phải bật ra tiếng lòng mình “Ồ! Sao mà độ ấy vui thế?” ta cảm thấy thật đáng trân trọng tình cảm của lão nông tuy già, cao tuổi, nhưng tinh thần vẫn sôi nổi, sục sôi phong trào yêu nước. ông muốn về làng quá, nỗi mong chờ, nhớ nhung luôn thường trực khôn nguôi.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Vì vậy, hang ngày ông thường sang bên gian nhà bác Thứ khoe về làng mình để phần nào vơi đi nỗi nhớ ấy và cugnx là cho sướng cái tai, cho đỡ nhớ. Và như thế, khoe làng đã trở thành một thói quen,một món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của lão nông thuần phác ấy. nhưng ta có thể nhận thấy rằng, đằng sau cái thói quen tưởng chừng như ngớ ngẩn ấy lại là cả một tấm lòng chân thực của ông đối với làng, là cả tình yêu thiêng liêng cao quý và niềm tự hào chân chính của ông Hai.
Với ông Hai cũng như mọi người dân Việt Nam, yêu làng gắn liền với yêu nước, gắn bó với kháng chiến với cụ Hồ. Nơi tản cư xa quê, không được tham gia cách mạng nhưng ông Hai vẫn thường xuyên vào phòng thông tin nghe tình hình, tin tức kháng chiến. Bước vào gian phòng ấy hôm nay, ruột gan ông lão như múa cả lên vì nghe được nhiều tin hay, nóng bỏng. Nào là “em bé trong đội tình nguyện xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cắm cờ”, “đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người bán hang đã bắt được tên quan hai bốt Thao ngay giữa chợ”…rất nhiều tin kháng chiến đáng mừng, đáng khâm phục! người dân Việt trong mưa bom bão đạn đã dũng cảm vượt lên khó khăn.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Khi nghe tin của đám người tản cư mới lên là làng Chợ Dầu theo giặc, ông Hai đã vô cùng sửng sốt, thất vọng. Ông như không còn tin vào chính mình nữa vậy. Từ đó, đã ba, bốn ngày ông không dám bước chân ra khỏi nhà, chỉ dám lẳng lặng nghe ngóng binh tình lên ngoài ra sao? Hẳn phải là một con người giàu lòng tự trọng, ông Hai mới có những biểu hiện như vậy. Mặc dù không ai biết rằng ông là người làng chợ Dầu lên ngoài mấy người sống cạnh nhà ông nhưng ông lão vẫn rất hỏ thẹn, vì yêu làng nên khi được tin dữ ấy,ông Hai đã trằn trọc không ngủ yên. Cái tin ấy đã trở thành nỗi ám ảnh day dứt lớn. Nhìn lũ trẻ con mà ông thấy thương “chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Nước mắt ông lão cứ trào ra rồi ông rít lên trong nỗi đau khổ, uất ức vì nhục “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước nhục nhã thế này?
Ông hai đã từng nhớ làng chợ Dầu đến da diết, từng ao ước trở về làng mãnh liệt nhưng bây giwof, ông thực sự thất vọng về ngôi làng ấy. ông đã xác định được, về làng tức là chịu quay đầu làm nô lệ cho Tây, về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hộ. Ông nói “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù”. Như vậy, tình yêu làng đã thống nhất, bao trùm lên tình yêu đất nước. Lúc này, yêu làng nhất là phải bỏ làng, ông chỉ yêu làng khi làng làm kháng chiến theo cụ Hồ.
Dù đã xác định như vậy nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ cái tình đối với ngôi lang, trong cái bế tắc và sự than khổ tủi nhục, ông chỉ còn biết giãi bày tâm sự với thằng Húc con ông để chứng minh cho tấm lòng trong sạch của mình.
Ông hỏi đứa con ngây thơ của mình “thế nhà con ở đâu? Con có thích về làng không?” Lời nói cất lên mà nghẹn ngào, nhuốm vị đắng cay, tủi hổ. Mặc dù ngôi làng theo tây rồi nhưng ông vẫn muốn nhắc con phải nhớ về cội nguồn, quê cha đất tổ của mình: “…nhà ta ở làng Chợ Dầu”.
Nước mắt ông lão giàn ra chảy ròng ròng trên 2 má, ông nói thủ thỉ: “thế con ủng hộ ai?”…Ủng hộ cụ Hồ con nhỉ? Ông nhắc con phải noi gương cụ Hồ Chí Minh thể hiện tấm lòng thủy chung với kháng chiến, với cách mạng, Ông lão nói nhue để ngỏ lòng mình, minh oan cho mình “cụ Hồ trên đầu trên cổ soi cho bố con ông”/
Những lời tâm sự với đứa con thực chất là lời tự nhủ với lòng mình, tự giãi bày nỗi lòng mình. Qua đó cho thấy tình yêu sâu nặng của ông đối với ngôi làng, thật sâu xa bền vững và đáng trân trọng biết bao!
Ngay khi nghe tin làng cải chính, cả ngôi làng chợ Dầu ấy không theo Việt gian mà đã tham gia chiến đấu rất anh dũng thì với một người yêu làng như ông Hai hẳn là không khỏi vui sướng vô hạn “cái mặt ông bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên, mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ hấp háy” và ông còn chia quà cho các con. Dường như lúc này, tính khoe làng lại bừng cháy trong lòng ông, vẫn cái dáng điệu quen thuộc ngày nào, ông lật đật đi thẳng sang bên gian bác Thứ, chưa đến bậc cửa ông đã vội báo ngay “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ- Đốt nhẵn”, rồi lại đi tiếp khoe với ông chủ nhà, mọi người tin đó.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Có thể nói nhà văn Kim Lân đã rất thành công khi xây dựng được tình huống đi ngược với tâm lí người thường. nhưng đặt nhân vật vòa trường hợp ấy, nhà văn có dụng ý muốn thể hiện tình cảm yêu làng đến mãnh liệt của người nông dân thuần phác như ông Hai.
Nhà ông bị đốt nhẵn nhưng ta không thấy điều gì lưỡng lự trong lời nói ấy mà ông cứ múa cả chân tay lên mà khoe với mọi người. cái tin ấy như có phép hồi sinh khiên ông vui sướng hả hê. Bởi đó là một bằng chứng hùng hồn chứng minh rằng ông không phải là dân làng Việt gian, làng Dầu vẫn là làng kháng chiến. Cái tin ấy đã giúp ông rũ bỏ mọi bế tắc tủi nhục. Ngôi nhà ruộng vườn là tài sản quý giá tích cóp từ bao đời mới tạo dựng lên được nay bị đốt sạch mà ông vẫn thấy vui bởi lẽ, nhà ông không còn nhưng thay vào đó là danh dự của làng được bảo toàn, trong sự cháy rụi của nhà ông, làng ông lại là một sự hồi sinh của làng Dầu khác, là cái làng ông đã từng yêu, cái làng đã từng anh dũng, kiên cường theo cách mạng rất đáng tự hào. Niềm vui ấy thể hiện tấm lòng yêu nước sẵn sang hi sinh tất cả cho kháng chiến. Quả là niềm vui của ông Hai chất phác, vô tư và ngời sáng lòng yêu nước cao cả.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Và như thế trang truyện khép lại nhưng vẫn luôn để lại trong ta những dư âm sâu sắc về một tình yêu làng da diết như ông Hai. Tình yêu làng thắm thiết ấy đã thống nhất với tình yêu nước, yêu kháng chiến. Với nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật và cách xây dựng tình huống độc đáo, Kim Lân đã khắc họa thành công hình ảnh ông Hai là biểu tượng của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Họ đã có những nhận thức đúng đắn hơn khi được ánh sáng cách mạng soi đường. Họ là những người đem xương máu đánh giặc “giữ làng giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” và luôn sẵn sàng hi sinh những gì quý giá nhất cho cuộc đời, cho cách mạng, cho kháng chiến.
đất nước. Để xây dựng, kế tục sự nghiệp, truyền thống vẻ vang của dân tộc thì chìa khóa mở cửa dẫn đường đến tương lai tốt đẹp chính là học vấn. nhưng hiện nay ở các trường phổ thong…vẫn diễn ra một thực trạng khó có thể khắc phục được, đó là ‘’Bệnh thành tích trong học tập và tiêu cực trong thi cử’’.
Nước ta từ cảnh lầm than, đói khổ vượt qua bao mưa bom bão đạ để tiến lên và giờ đây đứng trước những thách thức lớn lao, trong quá trình hội nhập và phát triển đổi mới công nghiệp hóa hiện đại hóa thì trình độ dân trí cũng đòi hỏi nhân lực phải nhiều, phải có kiến thức chuyên môn cao mới có thể đưa nước ta lên những bước tiến mới ‘’sánh vai với các cường quốc năm châu’’ như lời bác dạy.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Ở một số trường, tình trạng nêu trên phần nhiều là không thực hiện được, bệnh thành tích trong giáo dục dường như là biến. đội ngũ giáo viên đào tạo chưa có trình độ chuyên môn cao. Thầy cô giáo vì bệnh thành tích mà một người thì dạy trái nghề, người thì có con em trong trường nên giúp đỡ, có người nhân nhượng, không chấm thật, chấm đúng cho các bài kiểm tra của học sinh. Vì bệnh thành tích, muốn phấn đấu được điểm cao trong thi đua mà nâng đỡ.
Bên cạnh những thầy cô như vậy, cũng có nhiều trường học , đội ngũ giáo viên tương đối tốt, nhiều thầy cô giáo thực hiện đúng qui cách, chủ trương của bộ giáo dục đề ra chống ‘’bệnh thành tích trong giáo dục’’ … nhờ vậy họ có thể đào tạo những thế hệ học sinh giỏi, chọn và tìm được những học trò ưu tú, có năng thực chất và tiếp tục cung cấp những chương trình học bộ môn bồi dưỡng nâng cao cho những người trong đội tuyển. Đồng thời tuân thủ theo đó, họ còn biết được những học sinh yếu, kém để củng cố, có hướng dạy để có được kiến thức trên đà đó việc học chất lượng sẽ có hiệu quả.
Thế hẹ măng non nối tiếp măng già, nếu thầy cô có trình độ giỏi không mắc ‘’bệnh thành tích’’ thì lớp trẻ thiếu niên cũng sẽ học giỏi, có kiến thức cho bản thân, sau này tự tạo cho mình thói quen học tập. có một chỗ đứng tốt cho xã hội.
Học vấn là con đường ngắn nhất để đi đến thành công. Nếu chỉ có danh hiệu cao quý mà thực chất trong mỗi học sinh chỉ là những lỗ hổng kiến thức thì cũng ‘’xôi hỏng bỏng không’’
Nhưng bệnh thành tích rong giáo dục chỉ là một khía cạnh, ‘’tiêu cực trong thi cử’’ lại là một vấn đề rất phổ biến ở nhiều học sinh. Từ những điều đó, nếu không khắc phục sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng không thể nào quay lại được.
Mỗi học sinh qua bao thế hệ, đều mang một tâm lí chung muốn đạt được điểm cao, danh hiệu tốt và đỗ đạt trong thi cử. nhiều bạn trong lớp giờ kiểm tra thì nhìn bài, chép bài của nhau rồi sao chép. Copy từ sách vở mà không chịu học bài trước đó.
Nhiều trường tiểu học, một số học sinh không biết đọc, không biết viết chữ, không biết thực hiện những phép toán đơn giản mà vẫn được lên lớp đều, thậm chí còn qua kì thi tốt nghiệp lên trung học.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Nhiều kì thi tốt nghiệp, học sinh vẫn xảy ra tình trạng quay cóp, nhìn bài để được đỗ tốt nghiệp, được lên lớp.
Bộ giáo dục có đề ra chủ trương ‘’ngồi nhầm lớp’’…nhưng ở các lớp chọn, trường điểm đua nhau vào lớp A, mặc dù không có kiến thức nhiều. đó là những tiêu cực mà nhà nước đã khuyến cáo.
Trong những năm gần đây, nhiều trường học cũng đã thực hiện đúng theo quy định, chủ trương của ngành giáo dục nên tỉ lệ trượt tốt nghiệp cũng chiếm nhiều và đỗ cũng giảm không như nhiều năm trước.
Trong nhiều năm tới, nếu như ‘’bệnh thành tích trong giáo dục và tiêu cực trong thi cử’’ vẫn còn tồn tại, tiếp diễn thì quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của nước ta sẽ đi chậm lại, những nhân tài của Việt Nam chỉ là ‘’thùng rỗng tiếng vang’’, tỉ lệ thất nghiệp sẽ tăng lên.
Thế giới luôn mở rộng vòng tay đón chúng ta, nhưng để bước vào thế giới tươi đẹp, rạng sáng ấy, mỗi chúng ta phải bỏ ngay những tư tưởng sai lầm còn ẩn náu trong tâm trí mỗi người.
Nhà nước ta đã đề nghị ‘’chống bệnh thành tích trong giáo dục và tiêu cực trong thi cử’’, phát động nhiều chủ trương như: 2 không: không ngồi nhầm lớp, không quay cóp…
Để thực hiện được những di nguyện của Bác Hồ trước lúc ra đi, thế hệ sau này của chúng ta cần phải có những suy nghĩ và hành động đúng đắn. Phải vì sự nghiệp chung của cả dân tộc để thực hiện tốt những chủ trương nhà nước đề ra.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Ông hai đã từng nhớ làng chợ Dầu đến da diết, từng ao ước trở về làng mãnh liệt nhưng bây giwof, ông thực sự thất vọng về ngôi làng ấy. ông đã xác định được, về làng tức là chịu quay đầu làm nô lệ cho Tây, về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hộ. Ông nói “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù”. Như vậy, tình yêu làng đã thống nhất, bao trùm lên tình yêu đất nước. Lúc này, yêu làng nhất là phải bỏ làng, ông chỉ yêu làng khi làng làm kháng chiến theo cụ Hồ.
Dù đã xác định như vậy nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ cái tình đối với ngôi lang, trong cái bế tắc và sự than khổ tủi nhục, ông chỉ còn biết giãi bày tâm sự với thằng Húc con ông để chứng minh cho tấm lòng trong sạch của mình.
Ông hỏi đứa con ngây thơ của mình “thế nhà con ở đâu? Con có thích về làng không?” Lời nói cất lên mà nghẹn ngào, nhuốm vị đắng cay, tủi hổ. Mặc dù ngôi làng theo tây rồi nhưng ông vẫn muốn nhắc con phải nhớ về cội nguồn, quê cha đất tổ của mình: “…nhà ta ở làng Chợ Dầu”.
Nước mắt ông lão giàn ra chảy ròng ròng trên 2 má, ông nói thủ thỉ: “thế con ủng hộ ai?”…Ủng hộ cụ Hồ con nhỉ? Ông nhắc con phải noi gương cụ Hồ Chí Minh thể hiện tấm lòng thủy chung với kháng chiến, với cách mạng, Ông lão nói nhue để ngỏ lòng mình, minh oan cho mình “cụ Hồ trên đầu trên cổ soi cho bố con ông”/
Những lời tâm sự với đứa con thực chất là lời tự nhủ với lòng mình, tự giãi bày nỗi lòng mình. Qua đó cho thấy tình yêu sâu nặng của ông đối với ngôi làng, thật sâu xa bền vững và đáng trân trọng biết bao!
Ngay khi nghe tin làng cải chính, cả ngôi làng chợ Dầu ấy không theo Việt gian mà đã tham gia chiến đấu rất anh dũng thì với một người yêu làng như ông Hai hẳn là không khỏi vui sướng vô hạn “cái mặt ông bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên, mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ hấp háy” và ông còn chia quà cho các con. Dường như lúc này, tính khoe làng lại bừng cháy trong lòng ông, vẫn cái dáng điệu quen thuộc ngày nào, ông lật đật đi thẳng sang bên gian bác Thứ, chưa đến bậc cửa ông đã vội báo ngay “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ- Đốt nhẵn”, rồi lại đi tiếp khoe với ông chủ nhà, mọi người tin đó.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Có thể nói nhà văn Kim Lân đã rất thành công khi xây dựng được tình huống đi ngược với tâm lí người thường. nhưng đặt nhân vật vòa trường hợp ấy, nhà văn có dụng ý muốn thể hiện tình cảm yêu làng đến mãnh liệt của người nông dân thuần phác như ông Hai.
Nhà ông bị đốt nhẵn nhưng ta không thấy điều gì lưỡng lự trong lời nói ấy mà ông cứ múa cả chân tay lên mà khoe với mọi người. cái tin ấy như có phép hồi sinh khiên ông vui sướng hả hê. Bởi đó là một bằng chứng hùng hồn chứng minh rằng ông không phải là dân làng Việt gian, làng Dầu vẫn là làng kháng chiến. Cái tin ấy đã giúp ông rũ bỏ mọi bế tắc tủi nhục. Ngôi nhà ruộng vườn là tài sản quý giá tích cóp từ bao đời mới tạo dựng lên được nay bị đốt sạch mà ông vẫn thấy vui bởi lẽ, nhà ông không còn nhưng thay vào đó là danh dự của làng được bảo toàn, trong sự cháy rụi của nhà ông, làng ông lại là một sự hồi sinh của làng Dầu khác, là cái làng ông đã từng yêu, cái làng đã từng anh dũng, kiên cường theo cách mạng rất đáng tự hào. Niềm vui ấy thể hiện tấm lòng yêu nước sẵn sang hi sinh tất cả cho kháng chiến. Quả là niềm vui của ông Hai chất phác, vô tư và ngời sáng lòng yêu nước cao cả.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Và như thế trang truyện khép lại nhưng vẫn luôn để lại trong ta những dư âm sâu sắc về một tình yêu làng da diết như ông Hai. Tình yêu làng thắm thiết ấy đã thống nhất với tình yêu nước, yêu kháng chiến. Với nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật và cách xây dựng tình huống độc đáo, Kim Lân đã khắc họa thành công hình ảnh ông Hai là biểu tượng của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Họ đã có những nhận thức đúng đắn hơn khi được ánh sáng cách mạng soi đường. Họ là những người đem xương máu đánh giặc “giữ làng giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” và luôn sẵn sàng hi sinh những gì quý giá nhất cho cuộc đời, cho cách mạng, cho kháng chiến.
đất nước. Để xây dựng, kế tục sự nghiệp, truyền thống vẻ vang của dân tộc thì chìa khóa mở cửa dẫn đường đến tương lai tốt đẹp chính là học vấn. nhưng hiện nay ở các trường phổ thong…vẫn diễn ra một thực trạng khó có thể khắc phục được, đó là ‘’Bệnh thành tích trong học tập và tiêu cực trong thi cử’’.
Nước ta từ cảnh lầm than, đói khổ vượt qua bao mưa bom bão đạ để tiến lên và giờ đây đứng trước những thách thức lớn lao, trong quá trình hội nhập và phát triển đổi mới công nghiệp hóa hiện đại hóa thì trình độ dân trí cũng đòi hỏi nhân lực phải nhiều, phải có kiến thức chuyên môn cao mới có thể đưa nước ta lên những bước tiến mới ‘’sánh vai với các cường quốc năm châu’’ như lời bác dạy.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Ở một số trường, tình trạng nêu trên phần nhiều là không thực hiện được, bệnh thành tích trong giáo dục dường như là biến. đội ngũ giáo viên đào tạo chưa có trình độ chuyên môn cao. Thầy cô giáo vì bệnh thành tích mà một người thì dạy trái nghề, người thì có con em trong trường nên giúp đỡ, có người nhân nhượng, không chấm thật, chấm đúng cho các bài kiểm tra của học sinh. Vì bệnh thành tích, muốn phấn đấu được điểm cao trong thi đua mà nâng đỡ.
Bên cạnh những thầy cô như vậy, cũng có nhiều trường học , đội ngũ giáo viên tương đối tốt, nhiều thầy cô giáo thực hiện đúng qui cách, chủ trương của bộ giáo dục đề ra chống ‘’bệnh thành tích trong giáo dục’’ … nhờ vậy họ có thể đào tạo những thế hệ học sinh giỏi, chọn và tìm được những học trò ưu tú, có năng thực chất và tiếp tục cung cấp những chương trình học bộ môn bồi dưỡng nâng cao cho những người trong đội tuyển. Đồng thời tuân thủ theo đó, họ còn biết được những học sinh yếu, kém để củng cố, có hướng dạy để có được kiến thức trên đà đó việc học chất lượng sẽ có hiệu quả.
Thế hẹ măng non nối tiếp măng già, nếu thầy cô có trình độ giỏi không mắc ‘’bệnh thành tích’’ thì lớp trẻ thiếu niên cũng sẽ học giỏi, có kiến thức cho bản thân, sau này tự tạo cho mình thói quen học tập. có một chỗ đứng tốt cho xã hội.
Học vấn là con đường ngắn nhất để đi đến thành công. Nếu chỉ có danh hiệu cao quý mà thực chất trong mỗi học sinh chỉ là những lỗ hổng kiến thức thì cũng ‘’xôi hỏng bỏng không’’
Nhưng bệnh thành tích rong giáo dục chỉ là một khía cạnh, ‘’tiêu cực trong thi cử’’ lại là một vấn đề rất phổ biến ở nhiều học sinh. Từ những điều đó, nếu không khắc phục sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng không thể nào quay lại được.
Mỗi học sinh qua bao thế hệ, đều mang một tâm lí chung muốn đạt được điểm cao, danh hiệu tốt và đỗ đạt trong thi cử. nhiều bạn trong lớp giờ kiểm tra thì nhìn bài, chép bài của nhau rồi sao chép. Copy từ sách vở mà không chịu học bài trước đó.
Nhiều trường tiểu học, một số học sinh không biết đọc, không biết viết chữ, không biết thực hiện những phép toán đơn giản mà vẫn được lên lớp đều, thậm chí còn qua kì thi tốt nghiệp lên trung học.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Nhiều kì thi tốt nghiệp, học sinh vẫn xảy ra tình trạng quay cóp, nhìn bài để được đỗ tốt nghiệp, được lên lớp.
Bộ giáo dục có đề ra chủ trương ‘’ngồi nhầm lớp’’…nhưng ở các lớp chọn, trường điểm đua nhau vào lớp A, mặc dù không có kiến thức nhiều. đó là những tiêu cực mà nhà nước đã khuyến cáo.
Trong những năm gần đây, nhiều trường học cũng đã thực hiện đúng theo quy định, chủ trương của ngành giáo dục nên tỉ lệ trượt tốt nghiệp cũng chiếm nhiều và đỗ cũng giảm không như nhiều năm trước.
Trong nhiều năm tới, nếu như ‘’bệnh thành tích trong giáo dục và tiêu cực trong thi cử’’ vẫn còn tồn tại, tiếp diễn thì quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của nước ta sẽ đi chậm lại, những nhân tài của Việt Nam chỉ là ‘’thùng rỗng tiếng vang’’, tỉ lệ thất nghiệp sẽ tăng lên.
Thế giới luôn mở rộng vòng tay đón chúng ta, nhưng để bước vào thế giới tươi đẹp, rạng sáng ấy, mỗi chúng ta phải bỏ ngay những tư tưởng sai lầm còn ẩn náu trong tâm trí mỗi người.
Nhà nước ta đã đề nghị ‘’chống bệnh thành tích trong giáo dục và tiêu cực trong thi cử’’, phát động nhiều chủ trương như: 2 không: không ngồi nhầm lớp, không quay cóp…
Để thực hiện được những di nguyện của Bác Hồ trước lúc ra đi, thế hệ sau này của chúng ta cần phải có những suy nghĩ và hành động đúng đắn. Phải vì sự nghiệp chung của cả dân tộc để thực hiện tốt những chủ trương nhà nước đề ra.
phim Trận Hùng Chiến Xứ Sở Lá Cây
Mọi người, mọi nhà nên ý thức được những suy nghĩ của mình bởi từ những điều đó, những chủ nhân tương lai của đất nước sẽ giúp ích nhiều cho nhân loại.
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
Trên mỗi chặng đường dài rộng của lịch sử, mỗi tác phẩm văn học ra đời làm tấm gương phản chiếu hiện thực cuộc sống. theo dòng chảy thời gian, văn học dần có những bước tiến mới, những cách tân mới làm giàu them kho tang văn học Việt Nam. Có thể nói, quá trình hiện đại hóa thơ ca thời đầu thế kỉ XX đến đến Cách mạng tháng 8 năm 1945 được thể hiện rõ nhất qua 3 bài thơ “Lưu biệt khi xuất Dương’’ của Phan Bội Châu, ‘’Hầu trời’’ của Tản Đà, và ‘’Vội vàng’’ của Xuân Diệu.
Sinh ra không cùng thời và có lẽ bởi thế đến với mỗi thế hệ nhà thơ về sau ta lại bắt gặp những cách tân sáng tạo mới ra đời dựa trên nền tảng thơ ca truyền thống. Vừa kế thừa, vừa phát huy đổi mới cho nền văn học dân tộc.
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
Ra đời vào năm 1905, đầu thế kỉ XX, bài thơ ‘’Lưu biệt khi xuất dương’’ của Phan Bội Châu đã khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng, với tư tưởng mới mẻ, táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước:
‘’Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thủa há không ai’’
Câu thơ mở đầu nói đến chí nam nhi, quan niệm nhân sinh phổ biến dưới thời phong kiến. Nam nhi phải lập nên công danh sự nghiệp lớn, lưu danh muôn thủa:
‘’Đã làm trai ở trên trời đất
Phải có danh gì với núi sông’’
Nhưng điểm mới mẻ, táo bạo trong quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu là sự chủ động xoay chuyển thời thế ‘’Há để càn khôn tự chuyển dời’’ và sự tự khẳng định mình đầy khí phách đáng kính trọng :
‘’Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thủa há không ai’’
Qua đó, nhà thơ thể hiện rõ lẽ sống mới, quan niệm mới về chí làm trai. Tác giả khẳng định mình đồng thời thúc giục mọi người sống có ích cho đời. Đó là một cái tôi công dân đầy tinh thần trách nhiệm, gánh vác giang sơn.
Và như thế, khát vọng hành động bùng lên trong long trí sĩ với tư thế hiên ngang lên đường:
‘’Non sông đã chết sống them nhục
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài
Muốn vượt biển đông theo cánh gió
Muôn trùng song bạc tiễn ra khơi’’
Ra đời trong lúc giao thời giữa văn học trung đại và văn học hiện đại, bài thơ vừa mang những nét mới: lẽ sống, quan niệm ý thức cá nhân trước thời cuộc…nhưng thể thơ vẫn là thể thơ cũ (thất ngôn bát cú), niêm luật và ngôn ngữ vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại.
Nhưng đến với Tản Đà- Gạch nối giữa 2 thế kỉ qua Hầu trời (1921), trong bài thơ ta đã thấy xuất hiện một cái tôi cá nhân phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định mình:
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
Từ cách vào đề, nhà thơ đã hấp dẫn người đọc:
‘’Đêm qua chẳng biết có hay không
Chẳng phải hoảng hốt hay mơ mòng
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!
Thật được lên tiên sướng lạ lùng’’
Ông là một con người có cá tính rất ‘’Ngông’’. Ở cõi trần đời, thân phận nhà thơ bị xem thường, văn chương rẻ như bèo, bởi vậy Tản Đà đã tìm đến tận trời để khẳng định tài năng của mình.
Không chỉ có vậy, nhà thơ còn đánh giá cao tài năng văn chương của mình thông qua sự tán thưởng của Trời và các Chư Tiên:
‘’Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển
Êm như gió thoảng, tinh như sương!
Đầm như mưa xa, lạnh như tuyết!’’
Mặc dù bài thơ bao trùm là cảm hứng lãng mạn nhưng trong bài cso đoạn Tản Đà đã bộc lộ quan niệm khá hiện đại về nghề văn:
‘’Trần gian thước đất cũng không có‘’
Hay
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
‘’Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó
Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu’’
Lời thơ nghẹn ngào chi tiết chân thực. đó cũng chính là cuộc đời tác giả và cuộc đời bao nhà văn khác.
Và một nét mới không thể không nói tới, nó nằm ngay trên từng trang viết của Tản Đà, đó là cách chia khổ mà ta chưa từng bắt gặp trong thơ trung đại.
Qua bài thơ Hầu trời, tác giả đã mạnh dạn tự biểu hiện cái tôi cá nhân nhưng cái tôi phóng túng ấy vẫn phảng phất tinh thần ‘’ngông’’ của nhà nho tài tử trong thơ ca cuối thời trung đại kiểu Nguyễn Công Trứ hay Tú Xương.
Đến với Hầu trời, bài thơ đã có nhiều nét mới hơn so với ‘’Lưu biệt khi xuất dương’’ của Phan Bội Châu nhưng theo dòng luân chuyển của thời gian, bước chân vào xứ thơ trong giai đoạn từ 1932 trở đi, một cuộc ‘’cách mạng trong thơ ca’’ đã làm thay đổi hoàn toàn. Các bài thơ không hề còn dấu vết của thi pháp thơ trung đại nữa.
Có thể nói đặc trưng của thơ mới thể hiện rõ nhất trong thơ Xuân Diệu mà tiêu biểu là ‘’Vội vàng’’.
Qua bài thơ, ta có thể thấy quá trình hiện đại hóa thơ ca được thể hiện rõ trên mọi phương diện. đó là tiếng nói nghệ thuật của cái tôi cá nhân tự giải phóng hoàn toàn ra khỏi hệ thống ước lệ của thơ ca trung đại, trực tiếp quan sát thế giới và lòng mình bằng con mắt của cá nhân. Ngôn ngữ thơ được tổ chức gần với lời nói thường.
Vội vàng là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây, từng phút của cuộc đời mình, nhất là những năm tháng tuooit trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt.
Ngay bước dạo đầu, ta đã thấy sự táo bạo trong hành động của Xuân Diệu:
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
‘’Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc nắng lại
Cho hương đừng bay đi’’
Điệp cấu trúc ‘’Tôi muốn…cho…’’ gợi cảm xúc hối hả, dồn dập, nhà thơ như muốn níu giữ tất cả hương thơm, thanh sắc cho trần gian, cho cuộc đời để tận hưởng. Bằng động từ mạnh ‘’tắt nắng, buộc gió’’, Xuân Diệu đã khao khát hành động và dường như muốn đoạt quyền của tạo hóa. Có lẽ vì yêu thiên nhiên, yêu mùa xuân đến cháy bỏng nên ông mới thể hiện ‘’cái tôi’’ mạnh mẽ đến vậy.
Cũng bởi cuộc sống trần thế tuyệt đẹp, vạn vật căng tràn sức sống tươi mới, đầy xuân sắc mà đượm xuân tình, nhà thơ sao không khỏi thả hồn mình cùng đất trời hòa mình trong hơi thở mùa xuân:
‘’Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hang mi
Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần’’
Vâng, thiên nhiên dâng lên những thức say nồng đầy dư vị hạnh phúc nhưng thời gian qua đi nó sẽ mang mọi thứ lùi vào hư vô rồi tàn lụi.
Trong quan niệm của Xuân Diệu, thời gian tuyến tính mà không tuần hoàn như trong thơ xưa.
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
Chính vì ý thức được rằng ‘’Xuân không tuần hoàn và tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại’’ nên ông phải sống vội vàng, chạy đua với thời gian để tận hưởng và cống hiến:
‘’Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời’’
Nuối tiếc mùa xuân và tuổi trẻ qua đi, tâm hồn nhà thơ luôn thường trực một mùa xuân:
‘’Xuân của đất trời nay mới đến
Trong tôi xuân đã đến lâu rồi’’
(Nguyên đán)
Ông hưởng thụ cuộc sống bằng tất cả hồn mình:
‘’Sống toàn tim, toàn trí sống toàn hồn
Sống toàn thân và thức nhọn giác quan’’
(Thanh niên)
Yêu cuộc đời, yêu mùa xuân say mê, cuồng nhiệt đến vậy nên cái tôi trỗi dạy muốn hòa tan vạn vật vào hơi thở của mình:
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
‘’Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều’’
‘’Cho no nê thanh sắc của trời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi’’
Và lời giục giã trong ‘’Vội vàng’’ dường như đã đánh thức bao trái tim bạn đọc, khiến ta them yêu cuộc đời này biết bao.
Có thể nói mỗi thời đại đều chứa đựng những đề tài hay để các nhà thơ tìm thi hứng dệt nên những khúc ca diệu kì. Và càng về sau, thơ văn càng có nhiều đổi mới, đa dạng về nhiều măt.
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
“Lưu biệt khi xuất Dương’’ của Phan Bội Châu, ‘’Hầu trời’’ của Tản Đà ra đời trong độ giao thời, nội dung và cảm xúc có những nét mới nhưng thể thơ, thi pháp cơ bản vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại. nhưng giai đoạn 1930-1945, nền văn học nước nhà đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại. và ‘’Vội vàng’’ là một bài thơ như thế. Nó là một trong những tác phẩm tiêu biểu mang đặc trưng của thơ mới về cả cảm xúc và nghệ thuật. không còn cái ta trong thơ trung đại hay cái ngông của Tản Đà mà đã trở thành cái tôi phóng túng, tự do hơn.
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
Trên mỗi chặng đường dài rộng của lịch sử, mỗi tác phẩm văn học ra đời làm tấm gương phản chiếu hiện thực cuộc sống. theo dòng chảy thời gian, văn học dần có những bước tiến mới, những cách tân mới làm giàu them kho tang văn học Việt Nam. Có thể nói, quá trình hiện đại hóa thơ ca thời đầu thế kỉ XX đến đến Cách mạng tháng 8 năm 1945 được thể hiện rõ nhất qua 3 bài thơ “Lưu biệt khi xuất Dương’’ của Phan Bội Châu, ‘’Hầu trời’’ của Tản Đà, và ‘’Vội vàng’’ của Xuân Diệu.
Sinh ra không cùng thời và có lẽ bởi thế đến với mỗi thế hệ nhà thơ về sau ta lại bắt gặp những cách tân sáng tạo mới ra đời dựa trên nền tảng thơ ca truyền thống. Vừa kế thừa, vừa phát huy đổi mới cho nền văn học dân tộc.
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
Ra đời vào năm 1905, đầu thế kỉ XX, bài thơ ‘’Lưu biệt khi xuất dương’’ của Phan Bội Châu đã khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng, với tư tưởng mới mẻ, táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước:
‘’Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thủa há không ai’’
Câu thơ mở đầu nói đến chí nam nhi, quan niệm nhân sinh phổ biến dưới thời phong kiến. Nam nhi phải lập nên công danh sự nghiệp lớn, lưu danh muôn thủa:
‘’Đã làm trai ở trên trời đất
Phải có danh gì với núi sông’’
Nhưng điểm mới mẻ, táo bạo trong quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu là sự chủ động xoay chuyển thời thế ‘’Há để càn khôn tự chuyển dời’’ và sự tự khẳng định mình đầy khí phách đáng kính trọng :
‘’Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thủa há không ai’’
Qua đó, nhà thơ thể hiện rõ lẽ sống mới, quan niệm mới về chí làm trai. Tác giả khẳng định mình đồng thời thúc giục mọi người sống có ích cho đời. Đó là một cái tôi công dân đầy tinh thần trách nhiệm, gánh vác giang sơn.
Và như thế, khát vọng hành động bùng lên trong long trí sĩ với tư thế hiên ngang lên đường:
‘’Non sông đã chết sống them nhục
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài
Muốn vượt biển đông theo cánh gió
Muôn trùng song bạc tiễn ra khơi’’
Ra đời trong lúc giao thời giữa văn học trung đại và văn học hiện đại, bài thơ vừa mang những nét mới: lẽ sống, quan niệm ý thức cá nhân trước thời cuộc…nhưng thể thơ vẫn là thể thơ cũ (thất ngôn bát cú), niêm luật và ngôn ngữ vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại.
Nhưng đến với Tản Đà- Gạch nối giữa 2 thế kỉ qua Hầu trời (1921), trong bài thơ ta đã thấy xuất hiện một cái tôi cá nhân phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định mình:
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
Từ cách vào đề, nhà thơ đã hấp dẫn người đọc:
‘’Đêm qua chẳng biết có hay không
Chẳng phải hoảng hốt hay mơ mòng
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!
Thật được lên tiên sướng lạ lùng’’
Ông là một con người có cá tính rất ‘’Ngông’’. Ở cõi trần đời, thân phận nhà thơ bị xem thường, văn chương rẻ như bèo, bởi vậy Tản Đà đã tìm đến tận trời để khẳng định tài năng của mình.
Không chỉ có vậy, nhà thơ còn đánh giá cao tài năng văn chương của mình thông qua sự tán thưởng của Trời và các Chư Tiên:
‘’Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển
Êm như gió thoảng, tinh như sương!
Đầm như mưa xa, lạnh như tuyết!’’
Mặc dù bài thơ bao trùm là cảm hứng lãng mạn nhưng trong bài cso đoạn Tản Đà đã bộc lộ quan niệm khá hiện đại về nghề văn:
‘’Trần gian thước đất cũng không có‘’
Hay
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
‘’Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó
Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu’’
Lời thơ nghẹn ngào chi tiết chân thực. đó cũng chính là cuộc đời tác giả và cuộc đời bao nhà văn khác.
Và một nét mới không thể không nói tới, nó nằm ngay trên từng trang viết của Tản Đà, đó là cách chia khổ mà ta chưa từng bắt gặp trong thơ trung đại.
Qua bài thơ Hầu trời, tác giả đã mạnh dạn tự biểu hiện cái tôi cá nhân nhưng cái tôi phóng túng ấy vẫn phảng phất tinh thần ‘’ngông’’ của nhà nho tài tử trong thơ ca cuối thời trung đại kiểu Nguyễn Công Trứ hay Tú Xương.
Đến với Hầu trời, bài thơ đã có nhiều nét mới hơn so với ‘’Lưu biệt khi xuất dương’’ của Phan Bội Châu nhưng theo dòng luân chuyển của thời gian, bước chân vào xứ thơ trong giai đoạn từ 1932 trở đi, một cuộc ‘’cách mạng trong thơ ca’’ đã làm thay đổi hoàn toàn. Các bài thơ không hề còn dấu vết của thi pháp thơ trung đại nữa.
Có thể nói đặc trưng của thơ mới thể hiện rõ nhất trong thơ Xuân Diệu mà tiêu biểu là ‘’Vội vàng’’.
Qua bài thơ, ta có thể thấy quá trình hiện đại hóa thơ ca được thể hiện rõ trên mọi phương diện. đó là tiếng nói nghệ thuật của cái tôi cá nhân tự giải phóng hoàn toàn ra khỏi hệ thống ước lệ của thơ ca trung đại, trực tiếp quan sát thế giới và lòng mình bằng con mắt của cá nhân. Ngôn ngữ thơ được tổ chức gần với lời nói thường.
Vội vàng là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây, từng phút của cuộc đời mình, nhất là những năm tháng tuooit trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt.
Ngay bước dạo đầu, ta đã thấy sự táo bạo trong hành động của Xuân Diệu:
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
‘’Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc nắng lại
Cho hương đừng bay đi’’
Điệp cấu trúc ‘’Tôi muốn…cho…’’ gợi cảm xúc hối hả, dồn dập, nhà thơ như muốn níu giữ tất cả hương thơm, thanh sắc cho trần gian, cho cuộc đời để tận hưởng. Bằng động từ mạnh ‘’tắt nắng, buộc gió’’, Xuân Diệu đã khao khát hành động và dường như muốn đoạt quyền của tạo hóa. Có lẽ vì yêu thiên nhiên, yêu mùa xuân đến cháy bỏng nên ông mới thể hiện ‘’cái tôi’’ mạnh mẽ đến vậy.
Cũng bởi cuộc sống trần thế tuyệt đẹp, vạn vật căng tràn sức sống tươi mới, đầy xuân sắc mà đượm xuân tình, nhà thơ sao không khỏi thả hồn mình cùng đất trời hòa mình trong hơi thở mùa xuân:
‘’Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hang mi
Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần’’
Vâng, thiên nhiên dâng lên những thức say nồng đầy dư vị hạnh phúc nhưng thời gian qua đi nó sẽ mang mọi thứ lùi vào hư vô rồi tàn lụi.
Trong quan niệm của Xuân Diệu, thời gian tuyến tính mà không tuần hoàn như trong thơ xưa.
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
Chính vì ý thức được rằng ‘’Xuân không tuần hoàn và tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại’’ nên ông phải sống vội vàng, chạy đua với thời gian để tận hưởng và cống hiến:
‘’Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời’’
Nuối tiếc mùa xuân và tuổi trẻ qua đi, tâm hồn nhà thơ luôn thường trực một mùa xuân:
‘’Xuân của đất trời nay mới đến
Trong tôi xuân đã đến lâu rồi’’
(Nguyên đán)
Ông hưởng thụ cuộc sống bằng tất cả hồn mình:
‘’Sống toàn tim, toàn trí sống toàn hồn
Sống toàn thân và thức nhọn giác quan’’
(Thanh niên)
Yêu cuộc đời, yêu mùa xuân say mê, cuồng nhiệt đến vậy nên cái tôi trỗi dạy muốn hòa tan vạn vật vào hơi thở của mình:
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
‘’Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều’’
‘’Cho no nê thanh sắc của trời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi’’
Và lời giục giã trong ‘’Vội vàng’’ dường như đã đánh thức bao trái tim bạn đọc, khiến ta them yêu cuộc đời này biết bao.
Có thể nói mỗi thời đại đều chứa đựng những đề tài hay để các nhà thơ tìm thi hứng dệt nên những khúc ca diệu kì. Và càng về sau, thơ văn càng có nhiều đổi mới, đa dạng về nhiều măt.
phim Star Trek Chìm Vào Bóng Tối 2013
“Lưu biệt khi xuất Dương’’ của Phan Bội Châu, ‘’Hầu trời’’ của Tản Đà ra đời trong độ giao thời, nội dung và cảm xúc có những nét mới nhưng thể thơ, thi pháp cơ bản vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại. nhưng giai đoạn 1930-1945, nền văn học nước nhà đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại. và ‘’Vội vàng’’ là một bài thơ như thế. Nó là một trong những tác phẩm tiêu biểu mang đặc trưng của thơ mới về cả cảm xúc và nghệ thuật. không còn cái ta trong thơ trung đại hay cái ngông của Tản Đà mà đã trở thành cái tôi phóng túng, tự do hơn.
phim Cẩm Y Vệ
phim Cẩm Y Vệ
phim Cẩm Y Vệ
Trên mỗi chặng đường dài rộng của lịch sử, mỗi tác phẩm văn học ra đời làm tấm gương phản chiếu hiện thực cuộc sống. theo dòng chảy thời gian, văn học dần có những bước tiến mới, những cách tân mới làm giàu them kho tang văn học Việt Nam. Có thể nói, quá trình hiện đại hóa thơ ca thời đầu thế kỉ XX đến đến Cách mạng tháng 8 năm 1945 được thể hiện rõ nhất qua 3 bài thơ “Lưu biệt khi xuất Dương’’ của Phan Bội Châu, ‘’Hầu trời’’ của Tản Đà, và ‘’Vội vàng’’ của Xuân Diệu.
Sinh ra không cùng thời và có lẽ bởi thế đến với mỗi thế hệ nhà thơ về sau ta lại bắt gặp những cách tân sáng tạo mới ra đời dựa trên nền tảng thơ ca truyền thống. Vừa kế thừa, vừa phát huy đổi mới cho nền văn học dân tộc.
Ra đời vào năm 1905, đầu thế kỉ XX, bài thơ ‘’Lưu biệt khi xuất dương’’ của Phan Bội Châu đã khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng, với tư tưởng mới mẻ, táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước:
‘’Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thủa há không ai’’
Câu thơ mở đầu nói đến chí nam nhi, quan niệm nhân sinh phổ biến dưới thời phong kiến. Nam nhi phải lập nên công danh sự nghiệp lớn, lưu danh muôn thủa:
‘’Đã làm trai ở trên trời đất
Phải có danh gì với núi sông’’
Nhưng điểm mới mẻ, táo bạo trong quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu là sự chủ động xoay chuyển thời thế ‘’Há để càn khôn tự chuyển dời’’ và sự tự khẳng định mình đầy khí phách đáng kính trọng :
phim Cẩm Y Vệ
‘’Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thủa há không ai’’
Qua đó, nhà thơ thể hiện rõ lẽ sống mới, quan niệm mới về chí làm trai. Tác giả khẳng định mình đồng thời thúc giục mọi người sống có ích cho đời. Đó là một cái tôi công dân đầy tinh thần trách nhiệm, gánh vác giang sơn.
Và như thế, khát vọng hành động bùng lên trong long trí sĩ với tư thế hiên ngang lên đường:
‘’Non sông đã chết sống them nhục
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài
Muốn vượt biển đông theo cánh gió
Muôn trùng song bạc tiễn ra khơi’’
Ra đời trong lúc giao thời giữa văn học trung đại và văn học hiện đại, bài thơ vừa mang những nét mới: lẽ sống, quan niệm ý thức cá nhân trước thời cuộc…nhưng thể thơ vẫn là thể thơ cũ (thất ngôn bát cú), niêm luật và ngôn ngữ vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại.
Nhưng đến với Tản Đà- Gạch nối giữa 2 thế kỉ qua Hầu trời (1921), trong bài thơ ta đã thấy xuất hiện một cái tôi cá nhân phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định mình:
Từ cách vào đề, nhà thơ đã hấp dẫn người đọc:
‘’Đêm qua chẳng biết có hay không
Chẳng phải hoảng hốt hay mơ mòng
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!
Thật được lên tiên sướng lạ lùng’’
Ông là một con người có cá tính rất ‘’Ngông’’. Ở cõi trần đời, thân phận nhà thơ bị xem thường, văn chương rẻ như bèo, bởi vậy Tản Đà đã tìm đến tận trời để khẳng định tài năng của mình.
Không chỉ có vậy, nhà thơ còn đánh giá cao tài năng văn chương của mình thông qua sự tán thưởng của Trời và các Chư Tiên:
‘’Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!
phim Cẩm Y Vệ
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển
Êm như gió thoảng, tinh như sương!
Đầm như mưa xa, lạnh như tuyết!’’
Mặc dù bài thơ bao trùm là cảm hứng lãng mạn nhưng trong bài cso đoạn Tản Đà đã bộc lộ quan niệm khá hiện đại về nghề văn:
‘’Trần gian thước đất cũng không có‘’
Hay
‘’Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó
Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu’’
Lời thơ nghẹn ngào chi tiết chân thực. đó cũng chính là cuộc đời tác giả và cuộc đời bao nhà văn khác.
Và một nét mới không thể không nói tới, nó nằm ngay trên từng trang viết của Tản Đà, đó là cách chia khổ mà ta chưa từng bắt gặp trong thơ trung đại.
Qua bài thơ Hầu trời, tác giả đã mạnh dạn tự biểu hiện cái tôi cá nhân nhưng cái tôi phóng túng ấy vẫn phảng phất tinh thần ‘’ngông’’ của nhà nho tài tử trong thơ ca cuối thời trung đại kiểu Nguyễn Công Trứ hay Tú Xương.
Đến với Hầu trời, bài thơ đã có nhiều nét mới hơn so với ‘’Lưu biệt khi xuất dương’’ của Phan Bội Châu nhưng theo dòng luân chuyển của thời gian, bước chân vào xứ thơ trong giai đoạn từ 1932 trở đi, một cuộc ‘’cách mạng trong thơ ca’’ đã làm thay đổi hoàn toàn. Các bài thơ không hề còn dấu vết của thi pháp thơ trung đại nữa.
Có thể nói đặc trưng của thơ mới thể hiện rõ nhất trong thơ Xuân Diệu mà tiêu biểu là ‘’Vội vàng’’.
Qua bài thơ, ta có thể thấy quá trình hiện đại hóa thơ ca được thể hiện rõ trên mọi phương diện. đó là tiếng nói nghệ thuật của cái tôi cá nhân tự giải phóng hoàn toàn ra khỏi hệ thống ước lệ của thơ ca trung đại, trực tiếp quan sát thế giới và lòng mình bằng con mắt của cá nhân. Ngôn ngữ thơ được tổ chức gần với lời nói thường.
phim Cẩm Y Vệ
Vội vàng là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây, từng phút của cuộc đời mình, nhất là những năm tháng tuooit trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt.
Ngay bước dạo đầu, ta đã thấy sự táo bạo trong hành động của Xuân Diệu:
‘’Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc nắng lại
Cho hương đừng bay đi’’
Điệp cấu trúc ‘’Tôi muốn…cho…’’ gợi cảm xúc hối hả, dồn dập, nhà thơ như muốn níu giữ tất cả hương thơm, thanh sắc cho trần gian, cho cuộc đời để tận hưởng. Bằng động từ mạnh ‘’tắt nắng, buộc gió’’, Xuân Diệu đã khao khát hành động và dường như muốn đoạt quyền của tạo hóa. Có lẽ vì yêu thiên nhiên, yêu mùa xuân đến cháy bỏng nên ông mới thể hiện ‘’cái tôi’’ mạnh mẽ đến vậy.
Cũng bởi cuộc sống trần thế tuyệt đẹp, vạn vật căng tràn sức sống tươi mới, đầy xuân sắc mà đượm xuân tình, nhà thơ sao không khỏi thả hồn mình cùng đất trời hòa mình trong hơi thở mùa xuân:
‘’Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hang mi
Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần’’
Vâng, thiên nhiên dâng lên những thức say nồng đầy dư vị hạnh phúc nhưng thời gian qua đi nó sẽ mang mọi thứ lùi vào hư vô rồi tàn lụi.
Trong quan niệm của Xuân Diệu, thời gian tuyến tính mà không tuần hoàn như trong thơ xưa.
Chính vì ý thức được rằng ‘’Xuân không tuần hoàn và tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại’’ nên ông phải sống vội vàng, chạy đua với thời gian để tận hưởng và cống hiến:
‘’Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
phim Cẩm Y Vệ
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời’’
Nuối tiếc mùa xuân và tuổi trẻ qua đi, tâm hồn nhà thơ luôn thường trực một mùa xuân:
‘’Xuân của đất trời nay mới đến
Trong tôi xuân đã đến lâu rồi’’
(Nguyên đán)
phim Cẩm Y Vệ
Ông hưởng thụ cuộc sống bằng tất cả hồn mình:
‘’Sống toàn tim, toàn trí sống toàn hồn
Sống toàn thân và thức nhọn giác quan’’
(Thanh niên)
Yêu cuộc đời, yêu mùa xuân say mê, cuồng nhiệt đến vậy nên cái tôi trỗi dạy muốn hòa tan vạn vật vào hơi thở của mình:
‘’Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều’’
‘’Cho no nê thanh sắc của trời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi’’
Và lời giục giã trong ‘’Vội vàng’’ dường như đã đánh thức bao trái tim bạn đọc, khiến ta them yêu cuộc đời này biết bao.
phim Cẩm Y Vệ
Có thể nói mỗi thời đại đều chứa đựng những đề tài hay để các nhà thơ tìm thi hứng dệt nên những khúc ca diệu kì. Và càng về sau, thơ văn càng có nhiều đổi mới, đa dạng về nhiều măt.
“Lưu biệt khi xuất Dương’’ của Phan Bội Châu, ‘’Hầu trời’’ của Tản Đà ra đời trong độ giao thời, nội dung và cảm xúc có những nét mới nhưng thể thơ, thi pháp cơ bản vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại. nhưng giai đoạn 1930-1945, nền văn học nước nhà đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại. và ‘’Vội vàng’’ là một bài thơ như thế. Nó là một trong những tác phẩm tiêu biểu mang đặc trưng của thơ mới về cả cảm xúc và nghệ thuật. không còn cái ta trong thơ trung đại hay cái ngông của Tản Đà mà đã trở thành cái tôi phóng túng, tự do hơn.
phim Cẩm Y Vệ
Trên mỗi chặng đường dài rộng của lịch sử, mỗi tác phẩm văn học ra đời làm tấm gương phản chiếu hiện thực cuộc sống. theo dòng chảy thời gian, văn học dần có những bước tiến mới, những cách tân mới làm giàu them kho tang văn học Việt Nam. Có thể nói, quá trình hiện đại hóa thơ ca thời đầu thế kỉ XX đến đến Cách mạng tháng 8 năm 1945 được thể hiện rõ nhất qua 3 bài thơ “Lưu biệt khi xuất Dương’’ của Phan Bội Châu, ‘’Hầu trời’’ của Tản Đà, và ‘’Vội vàng’’ của Xuân Diệu.
Sinh ra không cùng thời và có lẽ bởi thế đến với mỗi thế hệ nhà thơ về sau ta lại bắt gặp những cách tân sáng tạo mới ra đời dựa trên nền tảng thơ ca truyền thống. Vừa kế thừa, vừa phát huy đổi mới cho nền văn học dân tộc.
Ra đời vào năm 1905, đầu thế kỉ XX, bài thơ ‘’Lưu biệt khi xuất dương’’ của Phan Bội Châu đã khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng, với tư tưởng mới mẻ, táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước:
‘’Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thủa há không ai’’
Câu thơ mở đầu nói đến chí nam nhi, quan niệm nhân sinh phổ biến dưới thời phong kiến. Nam nhi phải lập nên công danh sự nghiệp lớn, lưu danh muôn thủa:
‘’Đã làm trai ở trên trời đất
Phải có danh gì với núi sông’’
Nhưng điểm mới mẻ, táo bạo trong quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu là sự chủ động xoay chuyển thời thế ‘’Há để càn khôn tự chuyển dời’’ và sự tự khẳng định mình đầy khí phách đáng kính trọng :
phim Cẩm Y Vệ
‘’Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thủa há không ai’’
Qua đó, nhà thơ thể hiện rõ lẽ sống mới, quan niệm mới về chí làm trai. Tác giả khẳng định mình đồng thời thúc giục mọi người sống có ích cho đời. Đó là một cái tôi công dân đầy tinh thần trách nhiệm, gánh vác giang sơn.
Và như thế, khát vọng hành động bùng lên trong long trí sĩ với tư thế hiên ngang lên đường:
‘’Non sông đã chết sống them nhục
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài
Muốn vượt biển đông theo cánh gió
Muôn trùng song bạc tiễn ra khơi’’
Ra đời trong lúc giao thời giữa văn học trung đại và văn học hiện đại, bài thơ vừa mang những nét mới: lẽ sống, quan niệm ý thức cá nhân trước thời cuộc…nhưng thể thơ vẫn là thể thơ cũ (thất ngôn bát cú), niêm luật và ngôn ngữ vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại.
Nhưng đến với Tản Đà- Gạch nối giữa 2 thế kỉ qua Hầu trời (1921), trong bài thơ ta đã thấy xuất hiện một cái tôi cá nhân phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định mình:
Từ cách vào đề, nhà thơ đã hấp dẫn người đọc:
‘’Đêm qua chẳng biết có hay không
Chẳng phải hoảng hốt hay mơ mòng
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!
Thật được lên tiên sướng lạ lùng’’
Ông là một con người có cá tính rất ‘’Ngông’’. Ở cõi trần đời, thân phận nhà thơ bị xem thường, văn chương rẻ như bèo, bởi vậy Tản Đà đã tìm đến tận trời để khẳng định tài năng của mình.
Không chỉ có vậy, nhà thơ còn đánh giá cao tài năng văn chương của mình thông qua sự tán thưởng của Trời và các Chư Tiên:
‘’Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!
phim Cẩm Y Vệ
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển
Êm như gió thoảng, tinh như sương!
Đầm như mưa xa, lạnh như tuyết!’’
Mặc dù bài thơ bao trùm là cảm hứng lãng mạn nhưng trong bài cso đoạn Tản Đà đã bộc lộ quan niệm khá hiện đại về nghề văn:
‘’Trần gian thước đất cũng không có‘’
Hay
‘’Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó
Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu’’
Lời thơ nghẹn ngào chi tiết chân thực. đó cũng chính là cuộc đời tác giả và cuộc đời bao nhà văn khác.
Và một nét mới không thể không nói tới, nó nằm ngay trên từng trang viết của Tản Đà, đó là cách chia khổ mà ta chưa từng bắt gặp trong thơ trung đại.
Qua bài thơ Hầu trời, tác giả đã mạnh dạn tự biểu hiện cái tôi cá nhân nhưng cái tôi phóng túng ấy vẫn phảng phất tinh thần ‘’ngông’’ của nhà nho tài tử trong thơ ca cuối thời trung đại kiểu Nguyễn Công Trứ hay Tú Xương.
Đến với Hầu trời, bài thơ đã có nhiều nét mới hơn so với ‘’Lưu biệt khi xuất dương’’ của Phan Bội Châu nhưng theo dòng luân chuyển của thời gian, bước chân vào xứ thơ trong giai đoạn từ 1932 trở đi, một cuộc ‘’cách mạng trong thơ ca’’ đã làm thay đổi hoàn toàn. Các bài thơ không hề còn dấu vết của thi pháp thơ trung đại nữa.
Có thể nói đặc trưng của thơ mới thể hiện rõ nhất trong thơ Xuân Diệu mà tiêu biểu là ‘’Vội vàng’’.
Qua bài thơ, ta có thể thấy quá trình hiện đại hóa thơ ca được thể hiện rõ trên mọi phương diện. đó là tiếng nói nghệ thuật của cái tôi cá nhân tự giải phóng hoàn toàn ra khỏi hệ thống ước lệ của thơ ca trung đại, trực tiếp quan sát thế giới và lòng mình bằng con mắt của cá nhân. Ngôn ngữ thơ được tổ chức gần với lời nói thường.
phim Cẩm Y Vệ
Vội vàng là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây, từng phút của cuộc đời mình, nhất là những năm tháng tuooit trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt.
Ngay bước dạo đầu, ta đã thấy sự táo bạo trong hành động của Xuân Diệu:
‘’Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc nắng lại
Cho hương đừng bay đi’’
Điệp cấu trúc ‘’Tôi muốn…cho…’’ gợi cảm xúc hối hả, dồn dập, nhà thơ như muốn níu giữ tất cả hương thơm, thanh sắc cho trần gian, cho cuộc đời để tận hưởng. Bằng động từ mạnh ‘’tắt nắng, buộc gió’’, Xuân Diệu đã khao khát hành động và dường như muốn đoạt quyền của tạo hóa. Có lẽ vì yêu thiên nhiên, yêu mùa xuân đến cháy bỏng nên ông mới thể hiện ‘’cái tôi’’ mạnh mẽ đến vậy.
Cũng bởi cuộc sống trần thế tuyệt đẹp, vạn vật căng tràn sức sống tươi mới, đầy xuân sắc mà đượm xuân tình, nhà thơ sao không khỏi thả hồn mình cùng đất trời hòa mình trong hơi thở mùa xuân:
‘’Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hang mi
Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần’’
Vâng, thiên nhiên dâng lên những thức say nồng đầy dư vị hạnh phúc nhưng thời gian qua đi nó sẽ mang mọi thứ lùi vào hư vô rồi tàn lụi.
Trong quan niệm của Xuân Diệu, thời gian tuyến tính mà không tuần hoàn như trong thơ xưa.
Chính vì ý thức được rằng ‘’Xuân không tuần hoàn và tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại’’ nên ông phải sống vội vàng, chạy đua với thời gian để tận hưởng và cống hiến:
‘’Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
phim Cẩm Y Vệ
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời’’
Nuối tiếc mùa xuân và tuổi trẻ qua đi, tâm hồn nhà thơ luôn thường trực một mùa xuân:
‘’Xuân của đất trời nay mới đến
Trong tôi xuân đã đến lâu rồi’’
(Nguyên đán)
phim Cẩm Y Vệ
Ông hưởng thụ cuộc sống bằng tất cả hồn mình:
‘’Sống toàn tim, toàn trí sống toàn hồn
Sống toàn thân và thức nhọn giác quan’’
(Thanh niên)
Yêu cuộc đời, yêu mùa xuân say mê, cuồng nhiệt đến vậy nên cái tôi trỗi dạy muốn hòa tan vạn vật vào hơi thở của mình:
‘’Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều’’
‘’Cho no nê thanh sắc của trời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi’’
Và lời giục giã trong ‘’Vội vàng’’ dường như đã đánh thức bao trái tim bạn đọc, khiến ta them yêu cuộc đời này biết bao.
phim Cẩm Y Vệ
Có thể nói mỗi thời đại đều chứa đựng những đề tài hay để các nhà thơ tìm thi hứng dệt nên những khúc ca diệu kì. Và càng về sau, thơ văn càng có nhiều đổi mới, đa dạng về nhiều măt.
“Lưu biệt khi xuất Dương’’ của Phan Bội Châu, ‘’Hầu trời’’ của Tản Đà ra đời trong độ giao thời, nội dung và cảm xúc có những nét mới nhưng thể thơ, thi pháp cơ bản vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại. nhưng giai đoạn 1930-1945, nền văn học nước nhà đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại. và ‘’Vội vàng’’ là một bài thơ như thế. Nó là một trong những tác phẩm tiêu biểu mang đặc trưng của thơ mới về cả cảm xúc và nghệ thuật. không còn cái ta trong thơ trung đại hay cái ngông của Tản Đà mà đã trở thành cái tôi phóng túng, tự do hơn.
phim 12 Vòng Sinh Tử
phim 12 Vòng Sinh Tử
phim 12 Vòng Sinh Tử
Khi đề cập đến phụ nữ Việt Nam, ai ai cũng đều thừa nhận rằng từ ngàn xưa cho đến nay họ là những người đàn bà dịu hiền, thùy mị, đoan trang, đảm đang, trung trinh tiết hạnh, giàu lòng hy sinh.
Trong gia đình thì hiếu thảo với cha mẹ, tảo tần lo cho chồng con, ra ngoài là những bậc anh thư liệt nữ. Chính những đức tính đẹp nầy đã nâng cao phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam:
Phụ nữ Việt Nam trung trinh tiết hạnh,
Trang điểm cuộc đời muôn cánh hoa thơm.
Ra ngoài giúp nước, giúp non,
Về nhà tận tụy chồng con một lòng.
Trong suốt chiều dài của dòng lịch sử và chiều sâu của lòng dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã liệt oanh viết nên những trang sử vàng son làm vẻ vang giống nòi như Bà Trưng, Bà Triệu; nữ tướng Bùi Thị Xuân của Quang Trung; Cô Giang, Cô Bắc của Việt Nam Quốc Dân Đảng… Còn về thi văn, ta có Bà Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Bà Hồ Xuân Hương, Bà Sương Nguyệt Ánh… đều là những nữ sĩ tài hoa, nức tiếng trên văn đàn, là những cánh hồng tươi thắm trong vườn hoa văn học. Ngoài ra, còn có biết bao nhiêu phụ nữ Việt Nam khác sống một cuộc sống bình thường, thầm lặng nơi thôn trang, xóm làng mà những nét đẹp về tâm hồn của họ được dân gian ca tụng bằng những áng văn, những vần thơ, điệu hát, câu hò hay qua những vần ca dao phong phú.
Đề cập đến văn chương, chúng ta không thể nào bỏ qua nền thi ca bình dân mà ca dao là một trong những thể loại quen thuộc nầy. Từ lâu, ca dao đã đi vào lòng dân tộc và lạc vào rừng ca dao của kho tàng văn học, ta sẽ bắt gặp hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam qua những đức tính cao quý của họ:
Nói đến phụ nữ Việt Nam, trước hết phải nói đến lòng hiếu thảo đối với mẹ cha và tiết hạnh đối với bản thân. Không phải chỉ có một nàng Kiều của cụ Nguyễn Du mới biết báo hiếu mà bất cứ người con gái Việt Nam nào cũng đều nhớ đến ơn sinh thành, công lao nuôi dưỡng bao la của đấng song thân:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ, kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
phim 12 Vòng Sinh Tử
Đó là đối với cha mẹ, còn đối với bản thân thì:
Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh làm câu trao mình.
Người phụ nữ Việt Nam, ngay từ lúc còn ẵm ngửa cho đến khi biết lật, biết bò lớn dần trong nhịp võng đưa qua tiếng hát của bà ru cháu, mẹ ru con, chị ru em:
Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.
Hay qua điệu hát ầu ơ:
Ầu ơ… Bao giờ Chợ Quán hết vôi,
Thủ Thiêm hết giặc, em thôi đưa đò.
Bắp non mà nướng lửa lò,
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm.
Hoặc qua điệu ru ạ ờ:
Ạ ờ… Cái ngủ mày ngủ cho lâu,
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về.
Bắt được con cá rô, trê,
Tròng cổ lôi về cho cái ngủ ăn…
Những vần ca dao mộc mạc, bình dị đã đưa em bé gái Việt Nam vào giấc ngủ an bình và từ ngày nầy qua ngày khác, tiếng ru lắng đọng, thẩm thấu vào tiềm thức của em bé nên sau nầy lớn lên thành chị, thành mẹ, thành bà lại hát để ru em, ru con, ru cháu theo nhip võng đưa kẽo kẹt đều đều.
Hát ru em, hát ầu ơ, ạ ờ là một điệu hát thông dụng được phổ biến từ thôn xóm, làng mạc cho đến thị thành. Hát ru em là một bản trường ca bất tận của kho tàng văn chương Việt Nam. Vào những buổi trưa vắng lặng hay những đêm khuya yên tĩnh, cùng với tiếng võng đưa, giọng hát ầu ơ, ạ ờ dịu dàng, trìu mến của bà, của mẹ, của chị vang mãi trong lòng đứa trẻ ấu thơ. Tiếng võng đưa kẽo kẹt đều đều cùng với tiếng hát đã văng vẳng từ bao thề hệ trên đất nước Việt Nam theo dòng sinh mệnh của dân tộc. Trải qua bao nhiêu thế hệ, trong mọi gia đình, nghèo cũng như giàu, cái nhịp đều đều của tiếng võng đưa không bao gời dứt. Không có người Việt
Nam nào không từng hơn một lần nằm võng và tiếng võng đưa hòa cùng tiếng trẻ khóc, tiếng hát ru đã trở thành điệu nhạc muôn đời của dân tộc ta.
Thấm thóat, em bé gái Việt Nam nho nhỏ ngày nào nay đã lớn dần và có thể giúp đỡ mẹ những công việc lặt vặt. Một đôi khi lầm lỗi trong công việc bị mẹ quở mắng hay đánh đòn, em không bao giờ dám oán trách mẹ. Nếu bị quở mắng thì nhỏ nhẹ rằng:
Mẹ ơi đừng mắng con hoài,
Để con bẻ lựu, hái xoài mẹ ăn.
phim 12 Vòng Sinh Tử
Còn nếu bị đánh đòn, nàng chỉ thỏ thẻ:
Mẹ ơi đừng đánh con đau,
Để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ.
Theo thời gian, cô bé Việt Nam bây giờ đã trở thành thiếu nữ dậy thì, trước khi lấy chồng, một đôi lúc ngồi nhìn những hạt mưa rơi, nàng nghĩ vẩn vơ:
Thân em như hạt mưa rào,
Hạt sa xuống giếng, hạt vào vườn hoa.
Hay bâng khuâng tự hỏi:
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
Ngồi cành trúc, tựa cành mai,
Đông đào, tây liễu biết ai bạn cùng?
Đến tuổi dậy thì, phụ nữ Việt Nam trổ mã, đẹp dần lên. Mỗi nàng một vẻ đẹp riêng, người thì đẹp qua đôi mắt, người khác đẹp ở mái tóc, có cô đẹp qua nụ cười, cô khác đẹp bằng hai má lúm đồng tiền, có người đẹp với chiếc eo thon thon, dáng đi yểu điệu, có người đẹp trừu tượng qua tâm hồn… Tóm lại, mỗi người một vẻ để làm rung động hay làm xao xuyến con tim của người khác phái.
Những phụ nữ có đôi mắt lá răm, lông mày lá liễu được ca dao khen rằng:
Những người con mắt lá răm,
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
Hay những người có làn da trắng nõn, má lại hồng hồng, môi đỏ thắm:
Ai xui má đỏ, môi hồng,
Để anh nhác thấy đem lòng thương yêu.
Đã đẹp mặt mà còn đẹp về vóc dáng nữa thì “chim phải sa, cà phải lặn” cho nên những phụ nữ có chiếc eo thon thon:
Những người thắt đáy lưng ong,
Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.
Mái tóc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc trang điểm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam:
Tóc em dài em cài bông hoa lý,
Miệng em cười anh để ý anh thương.
Mái tóc dài, đẹp còn làm xao xuyến lòng người:
Tóc đến lưng vừa chừng em bới,
Để chi dài bối rối dạ anh.
phim 12 Vòng Sinh Tử
Nụ cười là nét duyên dáng, nét quyến rũ của người phụ nữ. Từ xưa cho đến nay có rất nhiều đàn ông đã chết vì nụ cười của phái đẹp:
Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng,
Thương em chúm chím cười duyên một mình.
Cũng thế, ta thường nghe ai đó ngâm hai câu ca dao:
Nàng về nàng nhớ ta chăng,
Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười.
Và ca dao cũng không quên ca tụng nét đẹp tâm hồn của phụ nữ Việt Nam:
Chim khôn hót tiếng rảnh rang,
Người khôn ăn nói dịu dàng dễ thương.
Phụ nữ Việt Nam vốn cháu con Quốc Mẫu Âu Cơ, dòng dõi tiên nên nhu mì, thùy mị được tiếng là đẹp, rất đẹp, nhất là trong chiếc áo dài tha thướt với vành nón lá che nghiêng nghiêng mái tóc xõa bờ vai. Có biết bao nhiêu chàng trai đã trồng cây si ở cổng trường Trưng Vương, Gia Long, Đồng Khánh, Sương Nguyệt Ánh, Bùi Thị Xuân… vì những tà áo dài thướt tha nầy và mái trường đã từng là chứng nhân của những mối tình đẹp tựa bài thơ, đẹp như đêm trăng huyền ảo. Trước cái đẹp của phụ nữ Việt Nam, mấy ai thuộc phái nam đã không từng cất giấu trong tim một bóng hồng của thời yêu thương ướt át:
Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
Năm thương cổ yếm đeo bùa,
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
Bảy thương nết ở khôn ngoan,
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
Chín thương em ở một mình,
Mười thương con mắt đưa tình với anh.
Nét đẹp của phụ nữ Việt Nam còn làm cho trái tim nhà vua đập sai nhịp vì bị “tiếng sét ái tình”:
Kim Luông có gái mỹ miều,
Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi..
Dân tộc Việt Nam là dân tộc hiền hậu, hiếu hòa, cần cù nhẫn nại lại trọng đạo lý cho nên khi con cái vừa lớn khôn thì được gia đình, nhà trường, xã hội dạy những bài học luân lý về cung cách ở đời, ăn ở có nhân có nghĩa theo đạo lý làm người và phụ nữ Việt Nam cũng được giáo huấn:
Con ơi mẹ bảo con này,
phim 12 Vòng Sinh Tử
Học buôn, học bán cho tày người ta.
Con đừng học thói điêu ngoa,
Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười.
Nhờ được giáo huấn cho nên phụ nữ Việt Nam đoan trang, thùy mị, nết na:
Sáng nay tôi đi hái dâu,
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn.
Hai anh đứng dậy hỏi han,
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu?
Thưa rằng tôi đi hái dâu,
Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn.
Thưa rằng bác mẹ tôi răn,
Làm thân con gái chớ ăn trầu người.
Và xa hơn nữa:
Ở nhà còn mẹ, còn cha,
Lẽ đâu tôi dám nguyệt hoa cùng người.
Phụ nữ Việt Nam khi đến tuổi bước vào con đường yêu đương thì yêu nhẹ nhàng, kín đáo. Nhẹ nhàng đến nỗi tình yêu của nàng len lén len lỏi vào tim hồi nào mà chàng trai không hay:
Vói tay ngắt lấy cọng ngò,
Thương anh muốn chết giả đò ngó lơ.
E thẹn, giả đò ngó lơ, len lén ngó mà không dám ngó lâu là những cử chỉ yêu đương nhẹ nhàng, kín đáo rất dễ thương của người phụ nữ Việt Nam:
Ngó anh không dám ngó lâu,
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi.
phim 12 Vòng Sinh Tử
Nhưng khi đã yêu thì phụ nữ Việt Nam yêu một cách đứng đắn, yêu đậm đà, tha thiết với tất cả con tim mình:
Qua đình ghé nón trông đình,
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.
Tình yêu của nàng còn sâu đậm hơn nữa:
Yêu chàng lắm lắm chàng ôi,
Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than.
Khi yêu, ngoài tình yêu đậm đà, tha thiết, phụ nữ Việt Nam lại còn chung tình:
Bao giờ cạn lạch Đồng Nai,
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền.
Và chung tình cho đến chết vẫn còn chung tình:
Hồng Hà nước đỏ như son,
Chết thì chịu chết, sống còn yêu anh.
Trước khi lấy chồng, phụ nữ Việt Nam cũng có thừa thông minh để lựa chọn ý trung nhân:
Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bõ công trang điểm má hồng lâu nay.
Hay mượn những vần ca dao nhắn nhủ với giới mày râu rằng muốn kết duyên vợ chồng, gá nghĩa trăm năm với phụ nữ Việt Nam thì:
Đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ,
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu.
Anh về học lấy chữ nhu,
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ.
phim 12 Vòng Sinh Tử
Đến ngày bước lên xe hoa về nhà chồng, phụ nữ Việt Nam không quên lạy tạ ơn sinh thành của cha mẹ:
Lạy cha ba lạy, một quì,
Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.
Khi cất bước ra đi về làm dâu nhà chồng, một lần cuối nàng cố ghi lại những kỷ niệm của thời thơ ấu vào tâm khảm:
Ra đi ngó trước, ngó sau,
Ngó nhà mấy cột, ngó cau mấy buồng.
Rồi lúc đã có chồng, người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tâm niệm:
Chưa chồng đi dọc, đi ngang,
Có chồng cứ thẳng một đàng mà đi.
Hay:
Đã thành gia thất thì thôi,
Đèo bòng chi lắm tội Trời ai mang.
Lấy chồng, người phụ nữ Việt Nam đẹp duyên cùng chồng:
Trầu vàng ăn với cau xanh,
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.
Và có hình ảnh nào đẹp hơn vợ chồng hạnh phúc trong cảnh thanh bần:
Râu tôm nấu với ruột bầu,
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.
Dù nghèo, thanh bần nhưng phụ nữ Việt Nam học theo triết lý an phận, vẫn chung tình với chồng, không đứng núi nầy trông núi nọ:
Chồng ta áo rách ta thương,
phim 12 Vòng Sinh Tử
Chồng người áo gấm, xông hương mặc người.
Tinh thần chịu khó, chịu cực và khuyến khích chồng ăn học cho thành tài được diễn đạt qua những vần cao dao làm nổi bật đức tính hy sinh của phụ nữ Việt Nam:
Canh một dọn cửa, dọn nhà.
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm.
Canh tư bước sang canh năm,
Anh ơi dậy học chớ nằm làm chi.
Mốt mai chúa mở khoa thi,
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh.
Bõ công cha mẹ sắm sanh,
Sắm nghiên, sắm bút cho anh học hành.
Đã có chồng con, người phụ nữ Việt Nam lại càng đảm đang, vừa lo cho con vừa lo toan mọi công việc nhà chồng:
Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.
Hoặc:
Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay.
Có con, người phụ nữ Việt Nam lại gánh thêm trách nhiệm làm mẹ với tình mẫu tử thiêng liêng:
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,
phim 12 Vòng Sinh Tử
Năm canh chầy thức đủ năm canh.
Tình mẫu tử của những bà mẹ Việt Nam bao la như trời bể, luôn luôn bảo bọc, che chở cho con:
Nuôi con chẳng quản chi thân,
Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.
Ngoài ra, phụ nữ Việt Nam còn phải đối diện với cảnh làm dâu nhà chồng. Trước đây, xã hội ta đã quan niệm sai lầm rằng người con dâu phải phục vụ gia đình nhà chồng gần như một người đầy tớ và một số bà mẹ chồng rất khắc nghiệt với nàng dâu gây nên nhiều cảnh thương tâm cho người phụ nữ Việt Nam. Tự Lực Văn Đoàn đã đưa ra nhiều cuốn tiểu thuyết luận đề để đả phá quan niệm sai lầm nầy và ca dao ta cũng lên tiếng thở than dùm cho các nàng dâu Việt Nam:
Làm dâu khổ lắm ai ơi,
Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than.
Còn nếu đất nước gặp thời chinh chiến, người phụ nữ Việt Nam không bịn rịn mà hăng hái khuyến khích chồng hành trang lên đường trả nợ núi sông:
Anh đi em ở lại nhà,
Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ.
Lầm than bao quản muối dưa,
Anh đi anh liệu chen đua với đời.
Phụ nữ Việt Nam, ngoài những đức tính đảm đang, giàu lòng hy sinh, nết na, thùy mị còn là người con rất mực hiếu thảo:
Ơn cha nặng lắm ai ơi,
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang,
Lòng nhớ công ơn cha mẹ sinh thành, nuôi dưỡng của người phụ nữ Việt Nam còn đươc diễn đạt qua mấy câu:
Ân cha lành cao như núi Thái
Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi.
Dù cho dâng trọn một đời,
Cũng không trả hết ân người sinh ta.
Những món quà nho nhỏ như buồng cau, đôi giày nhưng nói lên lòng hiếu thảo, lòng nhớ ơn công cha nghĩa mẹ của người phụ nữ Việt Nam:
Ai về tôi gởi buồng cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy
Hay là:
Ai về tôi gởi đôi giày,
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.
Khi phải đi xa hay lấy chồng xa, người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tưởng nhớ về mẹ cha:
phim 12 Vòng Sinh Tử
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Phụ nữ Việt Nam còn gắn liền với dân tộc và lịch sử vì thế khi tổ quốc lâm nguy, khi sơn hà nguy biến người phụ nữ Việt Nam hăng hái đưa vai gánh vác giang sơn như trường hợp Bà Trưng, Bà Triệu và những vị anh hùng liệt nữ khác.
Hai chị em Bà Trưng là Trưng Trắc và Trưng Nhị, quê quán làng Cổ Lai, đất Mê Linh. Lúc ấy nước nhà đang bị người Tàu cai trị bằng chính sách hà khắc khiến dân ta vô cùng khốn khổ. Rồi vào năm 40, sau Tây Lịch, Thái Thú Tô Định lại bắt giết ông Thi Sách, chồng Bà Trưng Trắc làm cho nợ nước chồng chất thêm thù nhà cho nên Bà Trưng Trắc cùng em là Bà Trưng Nhị đứng lên chiêu tập binh mã, anh hùng hào kiệt khắp nơi để đánh đuổi quân xâm lăng bạo tàn. Quân binh của Hai Bà chiến đấu rất dũng mãnh, chiếm được 65 thành, đánh đuổi quân Tô Định chạy về Tàu. Sau khi đánh đuổi được quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi, dân chúng tôn Bà Trưng Trắc lên làm Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh. Đến năm 42, vua Tàu là Quang Vũ nhà Đông Hán sai Mã Viện kéo quân qua phục thù. Trước địch quân hùng hậu, quân ta chống cự không lại nên Hai Bà đã gieo mình xuống giòng Hát Giang tuẫn tiết.
Không có hình ảnh nào vừa hào hùng, vừa lãng mạn cho bằng hình ảnh của hai vị liệt nữ anh hùng gieo mình xuống giòng nước trả nợ núi sông và để lại gương “Thiên thu thanh sử hữu anh thư”. Hai Bà Trưng làm vua được 3 năm, từ năm 40 đến năm 43. Khi vua Tự Đức đọc đoạn sử Hai Bà Trưng, ngài đã ngự phê: “Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách”. Và Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca đã ghi lại công nghiệp của Hai Bà bằng những vần ca dao lịch sử:
Bà Trưng quê ở Châu Phong,
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên,
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành.
Còn Bà Triệu, tên thật là Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa vào năm 248, sau Tây Lịch để chống lại quân xâm lăng Đông Ngô của Tàu. Bà còn trẻ nhưng rất can đảm, Bà thường nói: “Tôi muốn cỡi gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém kình ngư ở biển đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân cứu nước chứ không thèm bắt chước người đời còng lưng làm tì thiếp người ta”. Ra trận Bà cỡi voi mặc giáp vàng trông rất oai phong làm quân Ngô khiếp sợ. Nghĩa binh tôn Bà là Nhụy Kiều Tướng Quân. Bà Triệu đã anh dũng đền nợ nước khi Bà mới có 23 tuổi:
Ru con, con ngủ cho lành,
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi.
phim 12 Vòng Sinh Tử
Muốn coi lên núi mà coi,
Có Bà Triệu Tướng cỡi voi bành vàng.
Bà Trưng, Bà Triệu là những bậc nữ lưu anh hùng đầu tiên trong lịch sử thế giới nổi lên sớm nhất chống ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc. Rất lâu về sau nầy nước Pháp mới có nữ anh hùng Jeanne D’ Arc nhưng sự nghiệp của Bà Jeanne D’ Arc cũng không lẫm liệt bằng công nghiệp to lớn, lẫy lừng của Bà Trưng, Bà Triệu.
Thật xứng đáng:
phim 12 Vòng Sinh Tử
Phấn son tô điểm sơn hà,
Làm cho tỏ mặt đàn bà Việt Nam!
phim 12 Vòng Sinh Tử
Khi đề cập đến phụ nữ Việt Nam, ai ai cũng đều thừa nhận rằng từ ngàn xưa cho đến nay họ là những người đàn bà dịu hiền, thùy mị, đoan trang, đảm đang, trung trinh tiết hạnh, giàu lòng hy sinh.
Trong gia đình thì hiếu thảo với cha mẹ, tảo tần lo cho chồng con, ra ngoài là những bậc anh thư liệt nữ. Chính những đức tính đẹp nầy đã nâng cao phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam:
Phụ nữ Việt Nam trung trinh tiết hạnh,
Trang điểm cuộc đời muôn cánh hoa thơm.
Ra ngoài giúp nước, giúp non,
Về nhà tận tụy chồng con một lòng.
Trong suốt chiều dài của dòng lịch sử và chiều sâu của lòng dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã liệt oanh viết nên những trang sử vàng son làm vẻ vang giống nòi như Bà Trưng, Bà Triệu; nữ tướng Bùi Thị Xuân của Quang Trung; Cô Giang, Cô Bắc của Việt Nam Quốc Dân Đảng… Còn về thi văn, ta có Bà Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Bà Hồ Xuân Hương, Bà Sương Nguyệt Ánh… đều là những nữ sĩ tài hoa, nức tiếng trên văn đàn, là những cánh hồng tươi thắm trong vườn hoa văn học. Ngoài ra, còn có biết bao nhiêu phụ nữ Việt Nam khác sống một cuộc sống bình thường, thầm lặng nơi thôn trang, xóm làng mà những nét đẹp về tâm hồn của họ được dân gian ca tụng bằng những áng văn, những vần thơ, điệu hát, câu hò hay qua những vần ca dao phong phú.
Đề cập đến văn chương, chúng ta không thể nào bỏ qua nền thi ca bình dân mà ca dao là một trong những thể loại quen thuộc nầy. Từ lâu, ca dao đã đi vào lòng dân tộc và lạc vào rừng ca dao của kho tàng văn học, ta sẽ bắt gặp hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam qua những đức tính cao quý của họ:
Nói đến phụ nữ Việt Nam, trước hết phải nói đến lòng hiếu thảo đối với mẹ cha và tiết hạnh đối với bản thân. Không phải chỉ có một nàng Kiều của cụ Nguyễn Du mới biết báo hiếu mà bất cứ người con gái Việt Nam nào cũng đều nhớ đến ơn sinh thành, công lao nuôi dưỡng bao la của đấng song thân:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ, kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
phim 12 Vòng Sinh Tử
Đó là đối với cha mẹ, còn đối với bản thân thì:
Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh làm câu trao mình.
Người phụ nữ Việt Nam, ngay từ lúc còn ẵm ngửa cho đến khi biết lật, biết bò lớn dần trong nhịp võng đưa qua tiếng hát của bà ru cháu, mẹ ru con, chị ru em:
Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.
Hay qua điệu hát ầu ơ:
Ầu ơ… Bao giờ Chợ Quán hết vôi,
Thủ Thiêm hết giặc, em thôi đưa đò.
Bắp non mà nướng lửa lò,
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm.
Hoặc qua điệu ru ạ ờ:
Ạ ờ… Cái ngủ mày ngủ cho lâu,
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về.
Bắt được con cá rô, trê,
Tròng cổ lôi về cho cái ngủ ăn…
Những vần ca dao mộc mạc, bình dị đã đưa em bé gái Việt Nam vào giấc ngủ an bình và từ ngày nầy qua ngày khác, tiếng ru lắng đọng, thẩm thấu vào tiềm thức của em bé nên sau nầy lớn lên thành chị, thành mẹ, thành bà lại hát để ru em, ru con, ru cháu theo nhip võng đưa kẽo kẹt đều đều.
Hát ru em, hát ầu ơ, ạ ờ là một điệu hát thông dụng được phổ biến từ thôn xóm, làng mạc cho đến thị thành. Hát ru em là một bản trường ca bất tận của kho tàng văn chương Việt Nam. Vào những buổi trưa vắng lặng hay những đêm khuya yên tĩnh, cùng với tiếng võng đưa, giọng hát ầu ơ, ạ ờ dịu dàng, trìu mến của bà, của mẹ, của chị vang mãi trong lòng đứa trẻ ấu thơ. Tiếng võng đưa kẽo kẹt đều đều cùng với tiếng hát đã văng vẳng từ bao thề hệ trên đất nước Việt Nam theo dòng sinh mệnh của dân tộc. Trải qua bao nhiêu thế hệ, trong mọi gia đình, nghèo cũng như giàu, cái nhịp đều đều của tiếng võng đưa không bao gời dứt. Không có người Việt
Nam nào không từng hơn một lần nằm võng và tiếng võng đưa hòa cùng tiếng trẻ khóc, tiếng hát ru đã trở thành điệu nhạc muôn đời của dân tộc ta.
Thấm thóat, em bé gái Việt Nam nho nhỏ ngày nào nay đã lớn dần và có thể giúp đỡ mẹ những công việc lặt vặt. Một đôi khi lầm lỗi trong công việc bị mẹ quở mắng hay đánh đòn, em không bao giờ dám oán trách mẹ. Nếu bị quở mắng thì nhỏ nhẹ rằng:
Mẹ ơi đừng mắng con hoài,
Để con bẻ lựu, hái xoài mẹ ăn.
phim 12 Vòng Sinh Tử
Còn nếu bị đánh đòn, nàng chỉ thỏ thẻ:
Mẹ ơi đừng đánh con đau,
Để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ.
Theo thời gian, cô bé Việt Nam bây giờ đã trở thành thiếu nữ dậy thì, trước khi lấy chồng, một đôi lúc ngồi nhìn những hạt mưa rơi, nàng nghĩ vẩn vơ:
Thân em như hạt mưa rào,
Hạt sa xuống giếng, hạt vào vườn hoa.
Hay bâng khuâng tự hỏi:
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
Ngồi cành trúc, tựa cành mai,
Đông đào, tây liễu biết ai bạn cùng?
Đến tuổi dậy thì, phụ nữ Việt Nam trổ mã, đẹp dần lên. Mỗi nàng một vẻ đẹp riêng, người thì đẹp qua đôi mắt, người khác đẹp ở mái tóc, có cô đẹp qua nụ cười, cô khác đẹp bằng hai má lúm đồng tiền, có người đẹp với chiếc eo thon thon, dáng đi yểu điệu, có người đẹp trừu tượng qua tâm hồn… Tóm lại, mỗi người một vẻ để làm rung động hay làm xao xuyến con tim của người khác phái.
Những phụ nữ có đôi mắt lá răm, lông mày lá liễu được ca dao khen rằng:
Những người con mắt lá răm,
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
Hay những người có làn da trắng nõn, má lại hồng hồng, môi đỏ thắm:
Ai xui má đỏ, môi hồng,
Để anh nhác thấy đem lòng thương yêu.
Đã đẹp mặt mà còn đẹp về vóc dáng nữa thì “chim phải sa, cà phải lặn” cho nên những phụ nữ có chiếc eo thon thon:
Những người thắt đáy lưng ong,
Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.
Mái tóc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc trang điểm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam:
Tóc em dài em cài bông hoa lý,
Miệng em cười anh để ý anh thương.
Mái tóc dài, đẹp còn làm xao xuyến lòng người:
Tóc đến lưng vừa chừng em bới,
Để chi dài bối rối dạ anh.
phim 12 Vòng Sinh Tử
Nụ cười là nét duyên dáng, nét quyến rũ của người phụ nữ. Từ xưa cho đến nay có rất nhiều đàn ông đã chết vì nụ cười của phái đẹp:
Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng,
Thương em chúm chím cười duyên một mình.
Cũng thế, ta thường nghe ai đó ngâm hai câu ca dao:
Nàng về nàng nhớ ta chăng,
Nàng về ta nhớ hàm răng nàng cười.
Và ca dao cũng không quên ca tụng nét đẹp tâm hồn của phụ nữ Việt Nam:
Chim khôn hót tiếng rảnh rang,
Người khôn ăn nói dịu dàng dễ thương.
Phụ nữ Việt Nam vốn cháu con Quốc Mẫu Âu Cơ, dòng dõi tiên nên nhu mì, thùy mị được tiếng là đẹp, rất đẹp, nhất là trong chiếc áo dài tha thướt với vành nón lá che nghiêng nghiêng mái tóc xõa bờ vai. Có biết bao nhiêu chàng trai đã trồng cây si ở cổng trường Trưng Vương, Gia Long, Đồng Khánh, Sương Nguyệt Ánh, Bùi Thị Xuân… vì những tà áo dài thướt tha nầy và mái trường đã từng là chứng nhân của những mối tình đẹp tựa bài thơ, đẹp như đêm trăng huyền ảo. Trước cái đẹp của phụ nữ Việt Nam, mấy ai thuộc phái nam đã không từng cất giấu trong tim một bóng hồng của thời yêu thương ướt át:
Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
Năm thương cổ yếm đeo bùa,
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
Bảy thương nết ở khôn ngoan,
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
Chín thương em ở một mình,
Mười thương con mắt đưa tình với anh.
Nét đẹp của phụ nữ Việt Nam còn làm cho trái tim nhà vua đập sai nhịp vì bị “tiếng sét ái tình”:
Kim Luông có gái mỹ miều,
Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi..
Dân tộc Việt Nam là dân tộc hiền hậu, hiếu hòa, cần cù nhẫn nại lại trọng đạo lý cho nên khi con cái vừa lớn khôn thì được gia đình, nhà trường, xã hội dạy những bài học luân lý về cung cách ở đời, ăn ở có nhân có nghĩa theo đạo lý làm người và phụ nữ Việt Nam cũng được giáo huấn:
Con ơi mẹ bảo con này,
phim 12 Vòng Sinh Tử
Học buôn, học bán cho tày người ta.
Con đừng học thói điêu ngoa,
Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười.
Nhờ được giáo huấn cho nên phụ nữ Việt Nam đoan trang, thùy mị, nết na:
Sáng nay tôi đi hái dâu,
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn.
Hai anh đứng dậy hỏi han,
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu?
Thưa rằng tôi đi hái dâu,
Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn.
Thưa rằng bác mẹ tôi răn,
Làm thân con gái chớ ăn trầu người.
Và xa hơn nữa:
Ở nhà còn mẹ, còn cha,
Lẽ đâu tôi dám nguyệt hoa cùng người.
Phụ nữ Việt Nam khi đến tuổi bước vào con đường yêu đương thì yêu nhẹ nhàng, kín đáo. Nhẹ nhàng đến nỗi tình yêu của nàng len lén len lỏi vào tim hồi nào mà chàng trai không hay:
Vói tay ngắt lấy cọng ngò,
Thương anh muốn chết giả đò ngó lơ.
E thẹn, giả đò ngó lơ, len lén ngó mà không dám ngó lâu là những cử chỉ yêu đương nhẹ nhàng, kín đáo rất dễ thương của người phụ nữ Việt Nam:
Ngó anh không dám ngó lâu,
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi.
phim 12 Vòng Sinh Tử
Nhưng khi đã yêu thì phụ nữ Việt Nam yêu một cách đứng đắn, yêu đậm đà, tha thiết với tất cả con tim mình:
Qua đình ghé nón trông đình,
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.
Tình yêu của nàng còn sâu đậm hơn nữa:
Yêu chàng lắm lắm chàng ôi,
Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than.
Khi yêu, ngoài tình yêu đậm đà, tha thiết, phụ nữ Việt Nam lại còn chung tình:
Bao giờ cạn lạch Đồng Nai,
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền.
Và chung tình cho đến chết vẫn còn chung tình:
Hồng Hà nước đỏ như son,
Chết thì chịu chết, sống còn yêu anh.
Trước khi lấy chồng, phụ nữ Việt Nam cũng có thừa thông minh để lựa chọn ý trung nhân:
Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bõ công trang điểm má hồng lâu nay.
Hay mượn những vần ca dao nhắn nhủ với giới mày râu rằng muốn kết duyên vợ chồng, gá nghĩa trăm năm với phụ nữ Việt Nam thì:
Đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ,
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu.
Anh về học lấy chữ nhu,
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ.
phim 12 Vòng Sinh Tử
Đến ngày bước lên xe hoa về nhà chồng, phụ nữ Việt Nam không quên lạy tạ ơn sinh thành của cha mẹ:
Lạy cha ba lạy, một quì,
Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.
Khi cất bước ra đi về làm dâu nhà chồng, một lần cuối nàng cố ghi lại những kỷ niệm của thời thơ ấu vào tâm khảm:
Ra đi ngó trước, ngó sau,
Ngó nhà mấy cột, ngó cau mấy buồng.
Rồi lúc đã có chồng, người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tâm niệm:
Chưa chồng đi dọc, đi ngang,
Có chồng cứ thẳng một đàng mà đi.
Hay:
Đã thành gia thất thì thôi,
Đèo bòng chi lắm tội Trời ai mang.
Lấy chồng, người phụ nữ Việt Nam đẹp duyên cùng chồng:
Trầu vàng ăn với cau xanh,
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.
Và có hình ảnh nào đẹp hơn vợ chồng hạnh phúc trong cảnh thanh bần:
Râu tôm nấu với ruột bầu,
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.
Dù nghèo, thanh bần nhưng phụ nữ Việt Nam học theo triết lý an phận, vẫn chung tình với chồng, không đứng núi nầy trông núi nọ:
Chồng ta áo rách ta thương,
phim 12 Vòng Sinh Tử
Chồng người áo gấm, xông hương mặc người.
Tinh thần chịu khó, chịu cực và khuyến khích chồng ăn học cho thành tài được diễn đạt qua những vần cao dao làm nổi bật đức tính hy sinh của phụ nữ Việt Nam:
Canh một dọn cửa, dọn nhà.
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm.
Canh tư bước sang canh năm,
Anh ơi dậy học chớ nằm làm chi.
Mốt mai chúa mở khoa thi,
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh.
Bõ công cha mẹ sắm sanh,
Sắm nghiên, sắm bút cho anh học hành.
Đã có chồng con, người phụ nữ Việt Nam lại càng đảm đang, vừa lo cho con vừa lo toan mọi công việc nhà chồng:
Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.
Hoặc:
Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay.
Có con, người phụ nữ Việt Nam lại gánh thêm trách nhiệm làm mẹ với tình mẫu tử thiêng liêng:
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,
phim 12 Vòng Sinh Tử
Năm canh chầy thức đủ năm canh.
Tình mẫu tử của những bà mẹ Việt Nam bao la như trời bể, luôn luôn bảo bọc, che chở cho con:
Nuôi con chẳng quản chi thân,
Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.
Ngoài ra, phụ nữ Việt Nam còn phải đối diện với cảnh làm dâu nhà chồng. Trước đây, xã hội ta đã quan niệm sai lầm rằng người con dâu phải phục vụ gia đình nhà chồng gần như một người đầy tớ và một số bà mẹ chồng rất khắc nghiệt với nàng dâu gây nên nhiều cảnh thương tâm cho người phụ nữ Việt Nam. Tự Lực Văn Đoàn đã đưa ra nhiều cuốn tiểu thuyết luận đề để đả phá quan niệm sai lầm nầy và ca dao ta cũng lên tiếng thở than dùm cho các nàng dâu Việt Nam:
Làm dâu khổ lắm ai ơi,
Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than.
Còn nếu đất nước gặp thời chinh chiến, người phụ nữ Việt Nam không bịn rịn mà hăng hái khuyến khích chồng hành trang lên đường trả nợ núi sông:
Anh đi em ở lại nhà,
Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ.
Lầm than bao quản muối dưa,
Anh đi anh liệu chen đua với đời.
Phụ nữ Việt Nam, ngoài những đức tính đảm đang, giàu lòng hy sinh, nết na, thùy mị còn là người con rất mực hiếu thảo:
Ơn cha nặng lắm ai ơi,
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang,
Lòng nhớ công ơn cha mẹ sinh thành, nuôi dưỡng của người phụ nữ Việt Nam còn đươc diễn đạt qua mấy câu:
Ân cha lành cao như núi Thái
Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi.
Dù cho dâng trọn một đời,
Cũng không trả hết ân người sinh ta.
Những món quà nho nhỏ như buồng cau, đôi giày nhưng nói lên lòng hiếu thảo, lòng nhớ ơn công cha nghĩa mẹ của người phụ nữ Việt Nam:
Ai về tôi gởi buồng cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy
Hay là:
Ai về tôi gởi đôi giày,
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.
Khi phải đi xa hay lấy chồng xa, người phụ nữ Việt Nam luôn luôn tưởng nhớ về mẹ cha:
phim 12 Vòng Sinh Tử
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Phụ nữ Việt Nam còn gắn liền với dân tộc và lịch sử vì thế khi tổ quốc lâm nguy, khi sơn hà nguy biến người phụ nữ Việt Nam hăng hái đưa vai gánh vác giang sơn như trường hợp Bà Trưng, Bà Triệu và những vị anh hùng liệt nữ khác.
Hai chị em Bà Trưng là Trưng Trắc và Trưng Nhị, quê quán làng Cổ Lai, đất Mê Linh. Lúc ấy nước nhà đang bị người Tàu cai trị bằng chính sách hà khắc khiến dân ta vô cùng khốn khổ. Rồi vào năm 40, sau Tây Lịch, Thái Thú Tô Định lại bắt giết ông Thi Sách, chồng Bà Trưng Trắc làm cho nợ nước chồng chất thêm thù nhà cho nên Bà Trưng Trắc cùng em là Bà Trưng Nhị đứng lên chiêu tập binh mã, anh hùng hào kiệt khắp nơi để đánh đuổi quân xâm lăng bạo tàn. Quân binh của Hai Bà chiến đấu rất dũng mãnh, chiếm được 65 thành, đánh đuổi quân Tô Định chạy về Tàu. Sau khi đánh đuổi được quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi, dân chúng tôn Bà Trưng Trắc lên làm Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh. Đến năm 42, vua Tàu là Quang Vũ nhà Đông Hán sai Mã Viện kéo quân qua phục thù. Trước địch quân hùng hậu, quân ta chống cự không lại nên Hai Bà đã gieo mình xuống giòng Hát Giang tuẫn tiết.
Không có hình ảnh nào vừa hào hùng, vừa lãng mạn cho bằng hình ảnh của hai vị liệt nữ anh hùng gieo mình xuống giòng nước trả nợ núi sông và để lại gương “Thiên thu thanh sử hữu anh thư”. Hai Bà Trưng làm vua được 3 năm, từ năm 40 đến năm 43. Khi vua Tự Đức đọc đoạn sử Hai Bà Trưng, ngài đã ngự phê: “Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách”. Và Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca đã ghi lại công nghiệp của Hai Bà bằng những vần ca dao lịch sử:
Bà Trưng quê ở Châu Phong,
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên,
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành.
Còn Bà Triệu, tên thật là Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa vào năm 248, sau Tây Lịch để chống lại quân xâm lăng Đông Ngô của Tàu. Bà còn trẻ nhưng rất can đảm, Bà thường nói: “Tôi muốn cỡi gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém kình ngư ở biển đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân cứu nước chứ không thèm bắt chước người đời còng lưng làm tì thiếp người ta”. Ra trận Bà cỡi voi mặc giáp vàng trông rất oai phong làm quân Ngô khiếp sợ. Nghĩa binh tôn Bà là Nhụy Kiều Tướng Quân. Bà Triệu đã anh dũng đền nợ nước khi Bà mới có 23 tuổi:
Ru con, con ngủ cho lành,
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi.
phim 12 Vòng Sinh Tử
Muốn coi lên núi mà coi,
Có Bà Triệu Tướng cỡi voi bành vàng.
Bà Trưng, Bà Triệu là những bậc nữ lưu anh hùng đầu tiên trong lịch sử thế giới nổi lên sớm nhất chống ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc. Rất lâu về sau nầy nước Pháp mới có nữ anh hùng Jeanne D’ Arc nhưng sự nghiệp của Bà Jeanne D’ Arc cũng không lẫm liệt bằng công nghiệp to lớn, lẫy lừng của Bà Trưng, Bà Triệu.
Thật xứng đáng:
phim 12 Vòng Sinh Tử
Phấn son tô điểm sơn hà,
Làm cho tỏ mặt đàn bà Việt Nam!
phim Điều Kì Diệu Trong Phòng Giam Số 7
phim Điều Kì Diệu Trong Phòng Giam Số 7
phim Điều Kì Diệu Trong Phòng Giam Số 7
Với tuổi học trò, ai cũng có cái nao nao của buổi tựu trường, Nhưng lần này, tôi tự nhiên thấy lạ: lần đầu tiên tôi đến với mái trường THPT.Bao niềm vui, sự hảnh diện và cả sự rụt rè bỡ ngỡ cứ xen lẫn trong tôi với nhũng ấn tượng sẽ đọng lại mãi trong lòng.
Ngày đầu tiên đến trường – đó là một ngày nắng ấm, khí trời dìu dịu êm ái , theo sự thông báo của nhà trường , tôi đã chuẩn bị đủ tất cả mọi thứ nào là quần áo, giày dép, tập sách…. Nhưng lòng tôi vẫn cứ xôn xao khó tả. Bởi trước mắt tôi lúc này là một khung trời mới: bạn bè, thầy cô, trường lớp… đều mới tinh.Trong những năm trước, sau ba tháng hè nghỉ học, chúng tôi lại trở về mái trừơng thân quen với những hàng cây, ghế đá,..in đậm bao kỹ niệm của những lần nô đùa cùng bè bạn. Còn năm nay, tôi đã bước chân vào ngưỡng cửa cấp ba – một chân trời hoàn toàn mới lạ. Ngôi trường tôi học năm nay rất khang trang, và không gian thoáng đãng..Từ cổng trường là một hàng cây me già rợp bóng mát dẫn lối vào các dãy phòng học ba tầng uy nghi, đẹp đẽ . Nào là hàng cây, phòng học, cột cờ ….tất cả đều dập vào mắt tôi, khiến lòng không thể nén lại được cảm xúc ngỡ ngàng , bao niềm vui sướng và tôi đã thốt lên: “Ôi! Ngôi trường đẹp quá!”.
Chúng tôi, các lớp 10 cũng như anh chị lớp 11 dược phân công về các lớp. Tôi thầm ước sao cho mình có thể học chung với một số người bạn cũ. Tiếc thay, lớp tôi học hoàn toàn là bạn lạ. “Nhưng dần rồi mình cũng sẽ quen với những bạn ấy thôi” – Tôi tự an ủi mình như thế. Sau mấy phút bỡ ngỡ ban đầu, tôi thấy cô giáo chủ nhiệm bước vào. Dáng đi, hình ảnh của cô làm cho tôi gợi nhớ về cô giáo chủ nhiệm năm lớp 9.Vẫn một dáng người thon thả, đôi mắt hìên lành, mái tóc đen dài.. Chính hình ảnh có của cô đã làm cho tôi phần nào bớt đi sự lo lắng vì xung quanh tôi toàn là bạn lạ. Lởi đầu tiên cô nói với chúng tôi là những lời dạy bảo ân cần về ý thức và trách nhiệm đối với bản thân, trường, lớp, trong học tập và rèn luyện trong năm học đầu tiên của ngưỡng cửa cấp ba.Tôi nghĩ đó là bài học đầu tiên mà tôi có thể có được ở ngôi trường mới này..
phim Điều Kì Diệu Trong Phòng Giam Số 7
Ấn tượng nhất trong tôi là ngày khai giảng. Trong trang phục là một bộ đồ dài trắng tinh, tôi ra dáng là một nữ sinh thực sự. Tôi vừa thèn thẹn vừa cảm thấy mình như trưởng thành hơn. Tiếng trống khai trường do thầy hiệu trưởng gióng lên vang xa và âm thanh đó như lưu vào trong tôi một cảm xúc xao xuyến, lạ lùng. Tôi biết là từ hôm nay tôi hoà nhập vào một môi trừong mới.
Tôi được học trong một ngôi trường có bề dày thành tích và truyền thống dạy học – Trường THPT chuyên Huỳnh Mẫn Đạt, bản thân tôi có biết bao nhiêu niềm vui sướng và lòng tự hào và có xen lẫn một vài nỗi lo sợ . Nhưng điều quan trọng trong tôi lúc này, tôi hứa sẽ quyết tâm học tập và rèn luyện sao cho xứng đáng với truyền thống của nhà trường.
Với bao nhiêu diều suy nghĩ trong tôi , có cả niềm vui xen lẩn niềm kiêu hảnh và cả sự thẹn thùng bỡ ngỡ và một chút lo lắng…. Bấy nhiêu cảm xúc của những ngày đầu tiên đó dưới mái trường THPT chắc chắn sẽ đọng lại mãi trong lòng tôi như một dấu ấn không thể phai mờ …Văn hóa Việt Nam, văn hóa Bác Hồ là văn hóa của con người, do con người, vì con người. Đó là sự chắt lọc, kế thừa và tiếp kiến liên tục trong dòng thời gian vô tận; văn hóa là sáng tạo, chỉ có sáng tạo mới trở thành văn hóa. Giá trị văn hóa đích thực bao giờ cũng có sức thu hút và cảm hóa mạnh mẽ con người hướng về cái chân, thiện, mỹ, dù chính kiến hay niềm tin có khác nhau.
phim Điều Kì Diệu Trong Phòng Giam Số 7
Sức mạnh văn hóa Việt Nam-Văn hóa Bác Hồ đã đem lại cho dân tộc sức sống mãnh liệt. Trải qua một nghìn năm bị đô hộ không những không bị đồng hóa mà còn tích lũy và phát triển trở thành lực lượng vô tận vùng lên giành lại độc lập cho đất nước. Đó là nhờ dân ta đã giữ vững được nền văn hóa của dân tộc. Chúng ta đánh thắng những kẻ địch xâm lược mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Đó là nhờ sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, của nền văn hóa Việt Nam, của chủ nghĩa anh hùng kết hợp với trí thông minh, sáng tạo. Sự nghiệp đổi mới giành thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử càng chứng tỏ sự bền vững, sức sống, sáng tạo của nền văn hóa Việt Nam-Hồ Chí Minh. Trong tình hình hiện nay đặt ra cho chúng ta phải xây dựng đời sống xã hội “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Trong điều kiện sống đầy đủ, người Việt Nam vẫn tiết kiệm, khiêm tốn trong chi tiêu, hưởng thụ. Trong quan hệ xã hội người Việt Nam “Tôn sư trọng đạo”, tôn trọng người có công với dân tộc làm đầu. Giao lưu, đối thoại với các nền văn hóa thế giới, người Việt Nam luôn thể hiện bản lĩnh văn hiến dân tộc, giữ danh dự tâm hồn trong sáng. Tinh thần khiêm tốn học hỏi, cầu thị vì sự tiến bộ và phát triển đất nước, con người trước quan hệ quốc tế luôn được đề cao. Trong quan hệ giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp dân cư, các nhóm cộng đồng và cá nhân, thái độ “đói cho sạch, rách cho thơm”, tinh thần “Thương người như thể thương thân” luôn là bản sắc văn hóa trong cuộc sống, ứng xử của người Việt Nam.
Hiện nay đồng tiền đang chi phối mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành vi đối xử của con người, nó đang góp phần làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống nhân văn của nhân dân ta. Điều đáng nói là, nhiều nếp sống thể hiện thuần phong mỹ tục truyền thống của dân tộc ta bị thương mại hóa. Đời sống tinh thần, tâm linh của lễ giáo, nơi tôn nghiêm của các lễ hội cũng trở thành nơi kinh doanh trục lợi của không ít cá nhân và tập thể. Cưới xin là lễ tục truyền thống vô cùng thiêng liêng của mỗi đời người giờ đây cũng trở thành dịp tính toán lời lãi. Người ta đến đám cưới không phải là đến với tình cảm, bạn bè mà là để biếu xén, trả công, trả nợ nhau. Lễ sinh nhật, lễ mừng thọ không còn là ngày kỷ niệm những mốc trưởng thành và hạnh phúc lâu bền, lại là dịp tâng bốc nhau, thực hiện những mục đích đã định.
phim Điều Kì Diệu Trong Phòng Giam Số 7
Kinh tế phát triển, cuộc sống sung túc đem lại một không khí giao tiếp, ứng xử văn minh, lịch sự. Đó là nền tảng và điều kiện cho sự phát triển từng bước vững chắc ở các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của đất nước. Xã hội ta ngày càng trở nên văn minh, con người ngày càng có được dân chủ với tư cách cá nhân, cũng như với tư cách tập thể. Tất cả những điều đó làm cho mọi hoạt động, mọi quan hệ xã hội ta ngày càng trở nên lành mạnh, song nơi này nơi kia chúng ta thấy nền kinh tế thị trường đang làm nảy sinh quan hệ chủ tớ và ngày càng nặng nề. Không thiếu hiện tượng thủ trưởng dùng quyền hành để áp đặt công việc và cả hành vi cho cán bộ, nhân viên, bắt nhân viên tuân theo mệnh lệnh tuyệt đối của mình. Tình trạng mất dân chủ không chỉ xuất hiện trong công tác mà cả trong quan hệ cá nhân còn rất trầm trọng. Dân chủ nhiều nơi, nhiều lúc chỉ là hình thức.
Ở nhiều địa phương tiếp dân không chu đáo. Những ý kiến, kiến nghị của dân không được giải quyết, còn vòng vo đùn đẩy lên cấp trên. Có nơi còn trù dập cán bộ dưới quyền, hách dịch nhân dân, trù dập những người dũng cảm dám phát hiện, tố cáo, đấu tranh với những hiện tượng và hành vi sai trái của cán bộ lãnh đạo.
Mỗi cấp, mỗi ngành trong tỉnh cùng toàn Đảng, toàn dân “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hình thành đạo đức tốt đẹp trong giao tiếp, ứng xử. Đẩy mạnh công tác tư tưởng, văn hóa xây dựng nhân cách, nhân văn cao đẹp trong mỗi người, trong tập thể và toàn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.rong giá lạnh của chốn sương mù, cách thị trấn Sìn Hồ khoảng 1km là Trung tâm GDTX Sìn Hồ. Đó là một ngôi trường khang trang, sạch đẹp với 20 thầy cô giáo nhiệt tình và gần 300 học viên ngoan ngoãn, lễ phép được sắp xếp vào 9 lớp học.Khuôn viên của trường tuy hẹp nhưng luôn đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập, ăn ở, sinh hoạt cho học viên. Dãy nhà 2 tầng làm phòng học năm ngoái còn phủ nguyên một màu xám cũ kĩ thì năm nay đã khoác trên mình chiếc áo ve vàng nhạt. Chỉ sau 2 tháng hè mà trường như đổi thay nhiều lắm! 06 phòng dành làm lớp học cũng đã thay những bộ bàn ghế mới tinh. Do lớp nhiều nên nhà trường đã phân khối 11 và 12 học buổi sáng, còn buổi chiều dành cho khối 10 và khối 12 ôn thi tốt nghiệp.
Có lẽ, ai một lần từng đến Trung tâm, sẽ không bao giờ quên được hình ảnh mà tôi gọi là đối lập hôm nay tôi nhìn thấy. Ở khu trên, có dãy lớp học và dãy nhà dành cho các thầy cô giáo làm việc; khu dưới có khu kí túc của học viên và của giáo viên, nhìn lướt qua cũng thấy những phòng học, khu kí túc của học viên được trang hoàng đẹp đẽ, trong khi các thầy cô – những người tận tâm với tương lai của chúng tôi lại làm việc và ở trong những ngôi nhà cũ kĩ.
phim Điều Kì Diệu Trong Phòng Giam Số 7
Với tuổi học trò, ai cũng có cái nao nao của buổi tựu trường, Nhưng lần này, tôi tự nhiên thấy lạ: lần đầu tiên tôi đến với mái trường THPT.Bao niềm vui, sự hảnh diện và cả sự rụt rè bỡ ngỡ cứ xen lẫn trong tôi với nhũng ấn tượng sẽ đọng lại mãi trong lòng.
Ngày đầu tiên đến trường – đó là một ngày nắng ấm, khí trời dìu dịu êm ái , theo sự thông báo của nhà trường , tôi đã chuẩn bị đủ tất cả mọi thứ nào là quần áo, giày dép, tập sách…. Nhưng lòng tôi vẫn cứ xôn xao khó tả. Bởi trước mắt tôi lúc này là một khung trời mới: bạn bè, thầy cô, trường lớp… đều mới tinh.Trong những năm trước, sau ba tháng hè nghỉ học, chúng tôi lại trở về mái trừơng thân quen với những hàng cây, ghế đá,..in đậm bao kỹ niệm của những lần nô đùa cùng bè bạn. Còn năm nay, tôi đã bước chân vào ngưỡng cửa cấp ba – một chân trời hoàn toàn mới lạ. Ngôi trường tôi học năm nay rất khang trang, và không gian thoáng đãng..Từ cổng trường là một hàng cây me già rợp bóng mát dẫn lối vào các dãy phòng học ba tầng uy nghi, đẹp đẽ . Nào là hàng cây, phòng học, cột cờ ….tất cả đều dập vào mắt tôi, khiến lòng không thể nén lại được cảm xúc ngỡ ngàng , bao niềm vui sướng và tôi đã thốt lên: “Ôi! Ngôi trường đẹp quá!”.
Chúng tôi, các lớp 10 cũng như anh chị lớp 11 dược phân công về các lớp. Tôi thầm ước sao cho mình có thể học chung với một số người bạn cũ. Tiếc thay, lớp tôi học hoàn toàn là bạn lạ. “Nhưng dần rồi mình cũng sẽ quen với những bạn ấy thôi” – Tôi tự an ủi mình như thế. Sau mấy phút bỡ ngỡ ban đầu, tôi thấy cô giáo chủ nhiệm bước vào. Dáng đi, hình ảnh của cô làm cho tôi gợi nhớ về cô giáo chủ nhiệm năm lớp 9.Vẫn một dáng người thon thả, đôi mắt hìên lành, mái tóc đen dài.. Chính hình ảnh có của cô đã làm cho tôi phần nào bớt đi sự lo lắng vì xung quanh tôi toàn là bạn lạ. Lởi đầu tiên cô nói với chúng tôi là những lời dạy bảo ân cần về ý thức và trách nhiệm đối với bản thân, trường, lớp, trong học tập và rèn luyện trong năm học đầu tiên của ngưỡng cửa cấp ba.Tôi nghĩ đó là bài học đầu tiên mà tôi có thể có được ở ngôi trường mới này..
phim Điều Kì Diệu Trong Phòng Giam Số 7
Ấn tượng nhất trong tôi là ngày khai giảng. Trong trang phục là một bộ đồ dài trắng tinh, tôi ra dáng là một nữ sinh thực sự. Tôi vừa thèn thẹn vừa cảm thấy mình như trưởng thành hơn. Tiếng trống khai trường do thầy hiệu trưởng gióng lên vang xa và âm thanh đó như lưu vào trong tôi một cảm xúc xao xuyến, lạ lùng. Tôi biết là từ hôm nay tôi hoà nhập vào một môi trừong mới.
Tôi được học trong một ngôi trường có bề dày thành tích và truyền thống dạy học – Trường THPT chuyên Huỳnh Mẫn Đạt, bản thân tôi có biết bao nhiêu niềm vui sướng và lòng tự hào và có xen lẫn một vài nỗi lo sợ . Nhưng điều quan trọng trong tôi lúc này, tôi hứa sẽ quyết tâm học tập và rèn luyện sao cho xứng đáng với truyền thống của nhà trường.
Với bao nhiêu diều suy nghĩ trong tôi , có cả niềm vui xen lẩn niềm kiêu hảnh và cả sự thẹn thùng bỡ ngỡ và một chút lo lắng…. Bấy nhiêu cảm xúc của những ngày đầu tiên đó dưới mái trường THPT chắc chắn sẽ đọng lại mãi trong lòng tôi như một dấu ấn không thể phai mờ …Văn hóa Việt Nam, văn hóa Bác Hồ là văn hóa của con người, do con người, vì con người. Đó là sự chắt lọc, kế thừa và tiếp kiến liên tục trong dòng thời gian vô tận; văn hóa là sáng tạo, chỉ có sáng tạo mới trở thành văn hóa. Giá trị văn hóa đích thực bao giờ cũng có sức thu hút và cảm hóa mạnh mẽ con người hướng về cái chân, thiện, mỹ, dù chính kiến hay niềm tin có khác nhau.
phim Điều Kì Diệu Trong Phòng Giam Số 7
Sức mạnh văn hóa Việt Nam-Văn hóa Bác Hồ đã đem lại cho dân tộc sức sống mãnh liệt. Trải qua một nghìn năm bị đô hộ không những không bị đồng hóa mà còn tích lũy và phát triển trở thành lực lượng vô tận vùng lên giành lại độc lập cho đất nước. Đó là nhờ dân ta đã giữ vững được nền văn hóa của dân tộc. Chúng ta đánh thắng những kẻ địch xâm lược mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Đó là nhờ sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, của nền văn hóa Việt Nam, của chủ nghĩa anh hùng kết hợp với trí thông minh, sáng tạo. Sự nghiệp đổi mới giành thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử càng chứng tỏ sự bền vững, sức sống, sáng tạo của nền văn hóa Việt Nam-Hồ Chí Minh. Trong tình hình hiện nay đặt ra cho chúng ta phải xây dựng đời sống xã hội “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Trong điều kiện sống đầy đủ, người Việt Nam vẫn tiết kiệm, khiêm tốn trong chi tiêu, hưởng thụ. Trong quan hệ xã hội người Việt Nam “Tôn sư trọng đạo”, tôn trọng người có công với dân tộc làm đầu. Giao lưu, đối thoại với các nền văn hóa thế giới, người Việt Nam luôn thể hiện bản lĩnh văn hiến dân tộc, giữ danh dự tâm hồn trong sáng. Tinh thần khiêm tốn học hỏi, cầu thị vì sự tiến bộ và phát triển đất nước, con người trước quan hệ quốc tế luôn được đề cao. Trong quan hệ giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp dân cư, các nhóm cộng đồng và cá nhân, thái độ “đói cho sạch, rách cho thơm”, tinh thần “Thương người như thể thương thân” luôn là bản sắc văn hóa trong cuộc sống, ứng xử của người Việt Nam.
Hiện nay đồng tiền đang chi phối mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành vi đối xử của con người, nó đang góp phần làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống nhân văn của nhân dân ta. Điều đáng nói là, nhiều nếp sống thể hiện thuần phong mỹ tục truyền thống của dân tộc ta bị thương mại hóa. Đời sống tinh thần, tâm linh của lễ giáo, nơi tôn nghiêm của các lễ hội cũng trở thành nơi kinh doanh trục lợi của không ít cá nhân và tập thể. Cưới xin là lễ tục truyền thống vô cùng thiêng liêng của mỗi đời người giờ đây cũng trở thành dịp tính toán lời lãi. Người ta đến đám cưới không phải là đến với tình cảm, bạn bè mà là để biếu xén, trả công, trả nợ nhau. Lễ sinh nhật, lễ mừng thọ không còn là ngày kỷ niệm những mốc trưởng thành và hạnh phúc lâu bền, lại là dịp tâng bốc nhau, thực hiện những mục đích đã định.
phim Điều Kì Diệu Trong Phòng Giam Số 7
Kinh tế phát triển, cuộc sống sung túc đem lại một không khí giao tiếp, ứng xử văn minh, lịch sự. Đó là nền tảng và điều kiện cho sự phát triển từng bước vững chắc ở các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của đất nước. Xã hội ta ngày càng trở nên văn minh, con người ngày càng có được dân chủ với tư cách cá nhân, cũng như với tư cách tập thể. Tất cả những điều đó làm cho mọi hoạt động, mọi quan hệ xã hội ta ngày càng trở nên lành mạnh, song nơi này nơi kia chúng ta thấy nền kinh tế thị trường đang làm nảy sinh quan hệ chủ tớ và ngày càng nặng nề. Không thiếu hiện tượng thủ trưởng dùng quyền hành để áp đặt công việc và cả hành vi cho cán bộ, nhân viên, bắt nhân viên tuân theo mệnh lệnh tuyệt đối của mình. Tình trạng mất dân chủ không chỉ xuất hiện trong công tác mà cả trong quan hệ cá nhân còn rất trầm trọng. Dân chủ nhiều nơi, nhiều lúc chỉ là hình thức.
Ở nhiều địa phương tiếp dân không chu đáo. Những ý kiến, kiến nghị của dân không được giải quyết, còn vòng vo đùn đẩy lên cấp trên. Có nơi còn trù dập cán bộ dưới quyền, hách dịch nhân dân, trù dập những người dũng cảm dám phát hiện, tố cáo, đấu tranh với những hiện tượng và hành vi sai trái của cán bộ lãnh đạo.
Mỗi cấp, mỗi ngành trong tỉnh cùng toàn Đảng, toàn dân “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hình thành đạo đức tốt đẹp trong giao tiếp, ứng xử. Đẩy mạnh công tác tư tưởng, văn hóa xây dựng nhân cách, nhân văn cao đẹp trong mỗi người, trong tập thể và toàn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.rong giá lạnh của chốn sương mù, cách thị trấn Sìn Hồ khoảng 1km là Trung tâm GDTX Sìn Hồ. Đó là một ngôi trường khang trang, sạch đẹp với 20 thầy cô giáo nhiệt tình và gần 300 học viên ngoan ngoãn, lễ phép được sắp xếp vào 9 lớp học.Khuôn viên của trường tuy hẹp nhưng luôn đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập, ăn ở, sinh hoạt cho học viên. Dãy nhà 2 tầng làm phòng học năm ngoái còn phủ nguyên một màu xám cũ kĩ thì năm nay đã khoác trên mình chiếc áo ve vàng nhạt. Chỉ sau 2 tháng hè mà trường như đổi thay nhiều lắm! 06 phòng dành làm lớp học cũng đã thay những bộ bàn ghế mới tinh. Do lớp nhiều nên nhà trường đã phân khối 11 và 12 học buổi sáng, còn buổi chiều dành cho khối 10 và khối 12 ôn thi tốt nghiệp.
Có lẽ, ai một lần từng đến Trung tâm, sẽ không bao giờ quên được hình ảnh mà tôi gọi là đối lập hôm nay tôi nhìn thấy. Ở khu trên, có dãy lớp học và dãy nhà dành cho các thầy cô giáo làm việc; khu dưới có khu kí túc của học viên và của giáo viên, nhìn lướt qua cũng thấy những phòng học, khu kí túc của học viên được trang hoàng đẹp đẽ, trong khi các thầy cô – những người tận tâm với tương lai của chúng tôi lại làm việc và ở trong những ngôi nhà cũ kĩ.
phim Điều Kì Diệu Trong Phòng Giam Số 7
Không như những năm trước, các bạn học viên ở kí túc đông nên nhà bếp lúc nào cũng tất bật. Năm nay, cả trường chỉ hơn 20 bạn ở kí túc nên các cô nhà bếp cũng rãnh rỗi, bởi vậy, bữa ăn của chúng tôi càng được các cô quan tâm, chăm sóc hơn. Thay vì, cơm được chia để ở vị trí của các lớp thì mỗi buổi xuống lấy cơm chúng tôi lại được nhận từ tay các cô.
Ai cũng biết những đứa con của rừng, của bản như chúng tôi biết lấy đâu tiền mà mua sách tham khảo như các thầy cô vẫn nói? Cũng may mắn, năm nay nhà trường còn có 01 phòng tin để phục vụ nhu cầu truy cập mạng internet tìm tài liệu học tập của học viên. Đây niềm vui lớn nhất không chỉ của cá nhân tôi mà có lẽ đó là tâm trạng của tất cả các bạn học viên. Ngày nào phòng tin cũng mở theo đúng quy định và có các thầy cô trực ở đó để sẵn sàng chỉ dạy cho chúng tôi cách sử dụng máy, cách tìm tài liệu.
Ngôi trường thân yêu của chúng tôi sẽ như thế nào nếu không có các thầy cô? Và cả chúng tôi nữa. Các bạn ạ, tôi có thể khẳng định với các bạn một điều chắc chắn rằng trong suốt cuộc đời của chúng ta sẽ không bao giờ có được những người thầy người cô đáng kính như các thầy cô ở Trung tâm. Chưa ở đâu các thầy cô lặn lội mưa gió, giá lạnh vào trường mỗi buổi tối chỉ để xem học sinh của mình học bài có cần hỏi gì không? Cũng chưa ở đâu, các thầy cô giáo kể cả Ban giám đốc lại phân công nhau đi kiểm tra học viên của mình ở ngoại trú ăn ở thế nào? Nói đến học viên Trung tâm, ai cũng nghĩ ngay đến những cô cậu học trò chỉ học vài ba tháng phổ cập cấp 2 rồi vào Trung tâm học cấp 3. Có ai hiểu nổi khổ của các thầy cô những buổi học ngoại khoá, những buổi phụ đạo ngoài giờ chỉ vì trách nhiệm và nhiệt huyết với nghề, với học viên. Thầy cô nắn từng nét chữ, dạy từng con số chỉ để mong học viên của mình đủ kiến thức theo kịp chương trình.
Vậy mà, có phải trong tất cả gần 300 học viên năm nay đều hiểu được tấm lòng trời biển của thầy cô đâu. Vẫn còn những bạn ham chơi, bỏ học không đến lớp, vẫn còn 6 bạn bị đình chỉ học tập vì sử dụng ma tuý, vẫn còn 03 bạn không chấp hành luật giao thông bị phạt và đưa lên nhà trường, vẫn còn những bạn vô tình làm nét mặt thầy cô thoáng buồn trong giờ học…Nhưng hơn lúc nào hết, lúc chúng tôi vấp ngã thì thầy cô là người nâng chúng tôi dậy, dìu dắt chúng tôi những bước đi đúng đắn trong cuộc đời.
Những năm tháng gắn bó với trường làng, tôi chưa từng biết đến khái niệm hoạt động ngoại khoá nhưng gần 3 năm học ở Trung tâm thì thầy cô đã cho tôi hiểu và tham gia những hoạt động đầy ý nghĩa. Không một học viên nào trong trường nghĩ rằng những buổi chiều chăm sóc vườn rau, bồn hoa, cây xanh được trồng xung quanh trường là phải đi lao động. Bởi chính những hoạt động này, đã giúp chúng tôi có những kiến thức cuộc sống bổ ích. Những điều thật giản đơn hàng ngày mà chúng tôi không nhận ra.
Mỗi tuần đều có 01 lớp phân công nhau trực tuần, đó là lí do vì sao khi bạn đến Trung tâm luôn thấy sân trường, phòng học… sạch sẽ. Phòng ở ngăn nắp, gọn gàng.
Những ngày Lễ lớn cũng luôn được nhà trường quan tâm. Những ngày ấy, chúng tôi luôn có điều kiện được nói lên tiếng nói riêng của dân tộc mình bằng những tiết mục văn nghệ…Có lẽ, cũng không nơi đâu mà các dân tộc lại đoàn kết chung sống như ở đây.
Không như những năm trước, các bạn học viên ở kí túc đông nên nhà bếp lúc nào cũng tất bật. Năm nay, cả trường chỉ hơn 20 bạn ở kí túc nên các cô nhà bếp cũng rãnh rỗi, bởi vậy, bữa ăn của chúng tôi càng được các cô quan tâm, chăm sóc hơn. Thay vì, cơm được chia để ở vị trí của các lớp thì mỗi buổi xuống lấy cơm chúng tôi lại được nhận từ tay các cô.
Ai cũng biết những đứa con của rừng, của bản như chúng tôi biết lấy đâu tiền mà mua sách tham khảo như các thầy cô vẫn nói? Cũng may mắn, năm nay nhà trường còn có 01 phòng tin để phục vụ nhu cầu truy cập mạng internet tìm tài liệu học tập của học viên. Đây niềm vui lớn nhất không chỉ của cá nhân tôi mà có lẽ đó là tâm trạng của tất cả các bạn học viên. Ngày nào phòng tin cũng mở theo đúng quy định và có các thầy cô trực ở đó để sẵn sàng chỉ dạy cho chúng tôi cách sử dụng máy, cách tìm tài liệu.
Ngôi trường thân yêu của chúng tôi sẽ như thế nào nếu không có các thầy cô? Và cả chúng tôi nữa. Các bạn ạ, tôi có thể khẳng định với các bạn một điều chắc chắn rằng trong suốt cuộc đời của chúng ta sẽ không bao giờ có được những người thầy người cô đáng kính như các thầy cô ở Trung tâm. Chưa ở đâu các thầy cô lặn lội mưa gió, giá lạnh vào trường mỗi buổi tối chỉ để xem học sinh của mình học bài có cần hỏi gì không? Cũng chưa ở đâu, các thầy cô giáo kể cả Ban giám đốc lại phân công nhau đi kiểm tra học viên của mình ở ngoại trú ăn ở thế nào? Nói đến học viên Trung tâm, ai cũng nghĩ ngay đến những cô cậu học trò chỉ học vài ba tháng phổ cập cấp 2 rồi vào Trung tâm học cấp 3. Có ai hiểu nổi khổ của các thầy cô những buổi học ngoại khoá, những buổi phụ đạo ngoài giờ chỉ vì trách nhiệm và nhiệt huyết với nghề, với học viên. Thầy cô nắn từng nét chữ, dạy từng con số chỉ để mong học viên của mình đủ kiến thức theo kịp chương trình.
Vậy mà, có phải trong tất cả gần 300 học viên năm nay đều hiểu được tấm lòng trời biển của thầy cô đâu. Vẫn còn những bạn ham chơi, bỏ học không đến lớp, vẫn còn 6 bạn bị đình chỉ học tập vì sử dụng ma tuý, vẫn còn 03 bạn không chấp hành luật giao thông bị phạt và đưa lên nhà trường, vẫn còn những bạn vô tình làm nét mặt thầy cô thoáng buồn trong giờ học…Nhưng hơn lúc nào hết, lúc chúng tôi vấp ngã thì thầy cô là người nâng chúng tôi dậy, dìu dắt chúng tôi những bước đi đúng đắn trong cuộc đời.
Những năm tháng gắn bó với trường làng, tôi chưa từng biết đến khái niệm hoạt động ngoại khoá nhưng gần 3 năm học ở Trung tâm thì thầy cô đã cho tôi hiểu và tham gia những hoạt động đầy ý nghĩa. Không một học viên nào trong trường nghĩ rằng những buổi chiều chăm sóc vườn rau, bồn hoa, cây xanh được trồng xung quanh trường là phải đi lao động. Bởi chính những hoạt động này, đã giúp chúng tôi có những kiến thức cuộc sống bổ ích. Những điều thật giản đơn hàng ngày mà chúng tôi không nhận ra.
Mỗi tuần đều có 01 lớp phân công nhau trực tuần, đó là lí do vì sao khi bạn đến Trung tâm luôn thấy sân trường, phòng học… sạch sẽ. Phòng ở ngăn nắp, gọn gàng.
Những ngày Lễ lớn cũng luôn được nhà trường quan tâm. Những ngày ấy, chúng tôi luôn có điều kiện được nói lên tiếng nói riêng của dân tộc mình bằng những tiết mục văn nghệ…Có lẽ, cũng không nơi đâu mà các dân tộc lại đoàn kết chung sống như ở đây.
phim Điều Kì Diệu Trong Phòng Giam Số 7
Một hoạt động mà không kể đến thì sẽ thật là một thiếu xót không thể tha thứ của tôi đó là hoạt động Đoàn. Mới đầu năm học, Đoàn thanh niên đã có rất nhiều những hoạt động thu hút đoàn viên, thanh niên như tổ chức các cuộc thi, phát động các phong trào thi đua giữa các chi đoàn. Chiều thứ 5 hàng tuần, các thầy cô trong BCH Đoàn đều tổ chức cho học viên nội trú lao động tập thể, dọn dẹp vệ sinh. Những buổi chào cờ đầu tuần, trong trường có vấn đề gì nổi cộm là các thầy cô có ngay nội dung để tuyên truyền, giáo dục kịp thời. Tháng nào chúng tôi cũng có 1 buổi sinh hoạt Đoàn đầy ý nghĩa. Chúng tôi được nghe những đánh giá nhận xét về bản thân mình, được tham gia các trò chơi, được xem những tiết mục văn nghệ của Đội cờ đỏ vừa vui, hay lại vừa ý nghĩa…Và bài viết này của tôi cũng là để hưởng ứng cuộc thi “Viết về thầy cô và mái trường” nhân dịp Kỉ niệm 29 năm Ngày nhà giáo Việt Nam do Đoàn thanh niên phát động. Qua bài viết này, tôi muốn gửi đến thầy cô kính yêu của mình những lời chúc tốt đẹp nhất.
3 năm trôi qua thật nhanh, chẳng còn bao lâu nữa chúng tôi những học viên lớp 12 lại phải chia tay thầy cô để đi tiếp những chặng đường mới. Xin ghi lại những cảm xúc về mái trường tôi từng gắn bó suốt thời gian qua, về những người thầy, người cô vẫn hàng đêm miệt mài bên trang giáo án để chúng tôi có những bài học lớn trong cuộc đời. Cảm ơn thầy cô, cảm ơn Trung tâm đã cho tôi những tháng ngày sống, học tập thật hạnh phúc.
Một hoạt động mà không kể đến thì sẽ thật là một thiếu xót không thể tha thứ của tôi đó là hoạt động Đoàn. Mới đầu năm học, Đoàn thanh niên đã có rất nhiều những hoạt động thu hút đoàn viên, thanh niên như tổ chức các cuộc thi, phát động các phong trào thi đua giữa các chi đoàn. Chiều thứ 5 hàng tuần, các thầy cô trong BCH Đoàn đều tổ chức cho học viên nội trú lao động tập thể, dọn dẹp vệ sinh. Những buổi chào cờ đầu tuần, trong trường có vấn đề gì nổi cộm là các thầy cô có ngay nội dung để tuyên truyền, giáo dục kịp thời. Tháng nào chúng tôi cũng có 1 buổi sinh hoạt Đoàn đầy ý nghĩa. Chúng tôi được nghe những đánh giá nhận xét về bản thân mình, được tham gia các trò chơi, được xem những tiết mục văn nghệ của Đội cờ đỏ vừa vui, hay lại vừa ý nghĩa…Và bài viết này của tôi cũng là để hưởng ứng cuộc thi “Viết về thầy cô và mái trường” nhân dịp Kỉ niệm 29 năm Ngày nhà giáo Việt Nam do Đoàn thanh niên phát động. Qua bài viết này, tôi muốn gửi đến thầy cô kính yêu của mình những lời chúc tốt đẹp nhất.
3 năm trôi qua thật nhanh, chẳng còn bao lâu nữa chúng tôi những học viên lớp 12 lại phải chia tay thầy cô để đi tiếp những chặng đường mới. Xin ghi lại những cảm xúc về mái trường tôi từng gắn bó suốt thời gian qua, về những người thầy, người cô vẫn hàng đêm miệt mài bên trang giáo án để chúng tôi có những bài học lớn trong cuộc đời. Cảm ơn thầy cô, cảm ơn Trung tâm đã cho tôi những tháng ngày sống, học tập thật hạnh phúc.
phim Điều Kì Diệu Trong Phòng Giam Số 7
Bài đạt giải nhất cuộc thi “Viết về thầy cô và mái trường” năm 2011.
Bài đạt giải nhất cuộc thi “Viết về thầy cô và mái trường” năm 2011.
Subscribe to:
Posts (Atom)



.jpg)


.jpg)